Giao Tiếp Phi Bạo Lực: Các công cụ và Những điểm bàn luận trọng yếu nhằm Thực hành Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm

Tác giả Ian Mayes

Tổ chức Camphill Soltane, Glenmoore, Pensylvania


The Person-Centered Journal, Vol. 17, No. 1-2, 2010

Bản thân tôi xem tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực (Nonviolent Communication – NVC) như một bộ công cụ để hỗ trợ mọi người thực hành Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm (Person-Centered Approach – PCA) trong các mối quan hệ liên cá nhân. Theo như tôi thấy thì giá trị lớn lao của NVC chính là việc tiến trình này cho phép mọi người biến PCA, thường được nhìn nhận theo hướng mang nặng tính lý thuyết, thành một thứ có tính thực tiễn cao để bất cứ ai cũng có thể áp dụng được. Tôi nhận thấy rằng Giao Tiếp Phi Bạo Lực có tiềm năng rất lớn trong việc hỗ trợ khả năng áp dụng Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm trong nhiều tình huống đang ngày càng đa dạng hơn trong đời thực.

Trong bài viết này, tôi sẽ điểm qua một số điểm then chốt trong Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm, đặc biệt nhấn mạnh vào tài liệu được nhà tâm lý học Carl Rogers viết vào năm 1956 với tiêu đề “Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu”, và liệt kê các phương thức thực hành chứng minh cho các điều kiện trên trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực.

Nguồn gốc của Giao Tiếp Phi Bạo Lực

Giao Tiếp Phi Bạo Lực đã lần đầu được phát triển bởi tiến sĩ Marshall B. Rosenberg, người từng là học trò của nhà tâm lý học Carl Rogers tại Đại học Wisconsin-Madison trong khoảng thời gian từ năm 1957-1963. Tiến sĩ Rosenberg coi ông Rogers là một người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển công trình nghiên cứu của mình. Cho đến thời điểm cuối cùng trong tiến trình cộng tác với nhau, họ cũng đã là đồng nghiệp làm việc trong Dự Án Wisconsin. Vào năm 1966, ông Rosenberg đã được Hội Đồng Giám Khảo Hoa Kỳ mảng Tâm Lý Học Chuyên Nghiệp trao tặng danh hiệu chuyên môn trong lĩnh vực tâm lý học lâm sàng.

Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực đã được ra đời qua công trình nghiên cứu của ông Marshall Rosenberg trong những năm 1960, một dự án cung cấp các khóa đào tạo về kỹ năng giao tiếp và hòa giải cho các cộng đồng đang có những nỗ lực hòa bình trong việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học và các tổ chức công khác. Trong những năm 1980, một tổ chức đã được ra đời với cái tên là “Trung tâm Giao Tiếp Phi Bạo Lực” để cung cấp hệ thống và cơ chế cho tất cả các khóa đào tạo về Giao Tiếp Phi Bạo Lực diễn ra trên toàn thề giới.

Áp dụng Giao Tiếp Phi Bạo Lực cho “Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu” của Carl Rogers

Sau đây là nội dung trong bài viết về các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu của Carl Rogers:

“Để các thay đổi trong nhân cách xảy ra theo chiều hướng tích cực thì các điều kiện sau đây phải tồn tại và tiếp diễn trong một khoảng thời gian nhất định:

  • Hai người phải có sự tương tác với nhau về mặt tâm lý (psychological contact).
  • Người đầu tiên, được gọi là thân chủ, ở trong tình trạng không hòa hợp nội tại (incongruence), cảm giác trong ngoài bất nhất, dễ bị tổn thương và lo âu.
  • Người thứ hai, được gọi nhà trị liệu, có sự hòa hợp nội tại (congruence) hoặc nhất quán trong một mối quan hệ.
  • Nhà trị liệu có sự quan tâm/tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) dành cho thân chủ của mình.
  • Nhà trị liệu có sự hiểu biết mang tính thấu cảm (empathic understanding) dưới khung tham chiếu nội tại của thân chủ về những cảm nhận và suy nghĩ của thân chủ và nỗ lực truyền đạt lại sự thấu hiểu của mình cho họ.
  • Việc truyền đạt lại cảm giác thấu hiểu sâu sắc và sự tôn trọng tích cực vô điều kiện của nhà trị liệu cho thân chủ phải đạt được trên một mức độ tối thiểu.

Không cần bất cứ một điều kiện nào khác nữa. Chúng ta chỉ cần có đủ được sáu điều kiện trên tồn tại, và tiếp diễn trong một khoảng thời gian nhất định. Khi đó, tiến trình thay đổi nhân cách theo chiều hướng tích cực ắt xảy ra.”

Sau đây, tôi sẽ giải thích về cách thức mà tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có thể cung cấp phương thức thực hành và phương tiện cụ thể để hỗ trợ các cá nhân tạo ra một trong sáu điều kiện được nêu trên. Tôi sẽ bắt đầu với việc bàn luận về ba điều kiện mà ông Rogers gọi là “các điều kiện cốt lõi”, bao gồm “Tính chân thực (authenticity), sự thấu cảm (empathy), và sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard).

Sư chân thực

Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có hai phương thức thực hành để hỗ trợ cho việc đạt được sự chân thực (hay còn gọi là “sự hòa hợp/nhất quán”) trong một mối quan hệ. Phương thức thực hành đầu tiên được gọi là “tự thấu cảm” (self-empathy), bao gồm việc suy ngẫm và tự hỏi chính mình rằng bản thân đang cảm thấy như thế nào và cần có những gì trong một tình huống cụ thể. Đây chính là việc “trao sự thấu cảm cho chính bản thân mình”, thực sự lắng nghe chính bản thân để nắm bắt được bản chất của những cảm xúc mãnh liệt, sống động trong bản thân và những nhu cầu đã thúc đẩy những cảm xúc ấy.

Phương thức thực hành thứ hai được gọi là “biểu lộ thành thật” (honest expression). Theo thông lệ của NVC, dạng thức này xảy ra khi trước tiên một ai đó nói về sự quan sát của họ (tức là về những gì đã được nói hoặc làm một cách cụ thể) mà không thêm vào bất gì sự đánh giá hay diễn giải nào. Sau đó, người nói sẽ nói về những cảm giác và nhu cầu nào khiến họ thấy xáo động qua sự quan sát trên. Việc bộc lộ các cảm giác và nhu cầu của bản thân chính là một điểm hữu ích, và thậm chí là cần thiết trong việc giúp người nói trải qua một tiến trình tự thấu cảm với chính bản thân họ trước khi thành thật bộc lộ với người còn lại. Sau cùng, người nói sẽ đưa ra một thỉnh cầu rõ ràng và khả thi cho người kia và người đó sẽ mô tả cụ thể những điều có thể được thực hiện để đáp ứng được các nhu cầu được bộc lộ một cách tốt hơn.

Sự thấu cảm

Thực hành sự thấu cảm trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực bao gồm việc chú ý lắng nghe một ai đó với sự tò mò chủ động về những gì mà người nói có thể đang cảm thấy và cần đến. Việc lắng nghe này có thể được thực hiện một cách thầm lặng, hoặc cũng có thể đi kèm với việc nói ra các suy đoán về các cảm giác và nhu cầu tiềm ẩn để thăm hỏi người nói.

Trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực, sự thấu cảm là một yếu tố được tập trung nhiều đến mức được xem là một phương thức thực hành cụ thể mà những người ứng dụng NVC thường sắp xếp gác lại các công việc cụ thể để chuyên tâm thực hành. Thêm nữa, sự thấu cảm trên cũng được xem là một yếu tố có thể tồn tại trong các tương tác giữa các cá nhân với nhau, và sự hiện diện của yếu tố này sẽ có lợi nếu được tăng cường. Việc thực hành lắng nghe thấu cảm trong NVC (thường được gọi là “trao đi sự thấu cảm”) sẽ mang tính công khai, có chủ ý mà chúng ta có thể học được, và chúng ta sẽ có các phương tiện để củng cố sự phát triển của kỹ năng này.

Trong thời gian qua, những hình thức xã hội mới đã có sự phát triển trong các cộng đồng NVC để củng cố các kỹ năng lắng nghe thấu hiểu giữa các cá nhân. Chẳng hạn, chúng ta có thể có được mối quan hệ hợp tác giữa hai người mang tính “người bạn thấu cảm” mà trong đó các cá nhân sẽ thay phiên nhau lắng nghe thấu cảm với người kia và được người kia lắng nghe thấu cảm lại. Chúng ta cũng có các mối quan hệ “nhóm thấu cảm” mà trong đó toàn bộ một nhóm người sẽ thay phiên nhau lắng nghe và thấu cảm với một cá nhân.

Sự tôn trọng tích cực vô điều kiện

Một sự phân định mà NVC đem lại chính là phân biệt giữa sự giao tiếp “mở lòng” và giao tiếp “khép lòng”, kiểu như đặt ra câu hỏi “liệu trái tim bạn đang rộng mở hay khép kín?” Cụm từ “mở lòng” sẽ đồng nghĩa với “sự tôn trọng tích cực vô điều kiện”, trong khi “khép lòng” thì đồng nghĩa với “sự tôn trọng tích cực… có điều kiện”. Nhiều phương thức thực hành có trong NVC hiện vẫn đang được phát triển để phân biệt được rằng liệu trái tim của một người là đang rộng mở hay khép kín.

Nếu như một người đang có sự phán xét về một người khác, và nếu như sự tôn trọng của người đó là “có điều kiện”, thì chúng ta sẽ có một tiến trình mà trong NVC được gọi là tiến trình “Diễn dịch Hình ảnh về Đối phương”. Tiến trình này sẽ gắn liền với việc tìm hiểu những phán xét của bản thân về người khác, nhận biết được những đòi hỏi mà bản thân đặt ra cho họ, và qua đó xem xét lại tiến trình suy nghĩ của bản thân. Sau đó, chúng ta sẽ áp dụng tiến trình xác định các yếu tố bao gồm “Quan sát’, “Cảm xúc”, và “Nhu cầu” cho chính bản thân và để suy đoán về tình huống của người đang được phán xét. Sau cùng, qua tiến trình trên, lối suy nghĩ phán xét (hay còn gọi là “hình ảnh đối phương”) sẽ được chuyển đổi thành sự tường minh và tôn trọng sâu sắc hơn đối với cả bản thân và người kia.

Phương thức thực hành còn lại của sự tôn trọng tích cực vô điều kiện là việc bộc lộ sự biết ơn và cảm kích với người kia. Những biểu hiện này có thể được củng cố thêm với tiến trình NVC bằng cách chứa đựng những biểu đạt mang tính tham chiếu với các hành động đã được thực hiện, các nhu cầu cụ thể đã được đáp ứng bằng các hành động trên, và các cảm xúc tích cực sẽ xuất hiện nhờ tất cả những điều này.

Sự nhận biết của thân chủ về các điều kiện cốt lõi

Có một phương tiện trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực giúp bạn nhận biết được rằng liệu người mà bạn đang tương tác cùng có cảm thấy bạn đang chân thực, thấu cảm và tôn trọng tích cực vô điều kiện hay không. Phương tiện này được gọi là “Đề nghị/thỉnh cầu kết nối”. Kiểu thỉnh cầu này sẽ chủ yếu tập trung vào chính mối quan hệ trong khoảnh khắc hiện tại. Chẳng hạn như, các thỉnh cầu kết nối có thể là những câu hỏi như “Bạn cảm thấy thế nào khi nghe tôi nói như vậy?” “Bạn có thể thuật lại cho tôi điều mà bạn vừa nghe tôi nói được không?” hay “Bạn có tin là tôi đang rất nghiêm túc về những gì mình tôi đang nói không?”. Dựa theo cách mà người bên kia trả lời những câu hỏi này, bạn sẽ có thêm nhiều thông tin hơn để xem xét rằng liệu người đó có nhận biết được các điều kiện cốt lõi đang hiện có trong một mối quan hệ hay không.

Nỗi sợ hãi và sự lo âu của thân chủ

Có một khái niệm được sử dụng trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực đó là “ranh giới” và việc “hoạt động bằng các ranh giới của bản thân”. “Ranh giới” tức là phạm vi mà trong đó sự thoải mái của một cá nhân trong việc nhìn nhận và nói chuyện về một vấn đề riêng tư có sự thay đổi bất ngờ. Đây chính là nơi mà phạm vi cá nhân trở nên “quá riêng tư”, “quá nguy hiểm”, “đáng sợ” và vân vân. “Ranh giới” chính là nơi giao nhau giữa “vùng an toàn” và “vùng ngoài an toàn” trong tâm lý của một cá nhân. Chúng ta hiện có rất nhiều phương thức thực hành để xác định được các phạm vi trên và thử nghiệm với chúng.

Giao tiếp còn được gọi là “bước gần đến nỗi sợ của bản thân”. Để thực hiện được điều này thì đầu tiên là phải xác định xem điều gì thường gây ra cảm giác sợ hãi cho thân chủ và sau đó là xác định một cá nhân cụ thể tượng trưng cho nỗi sợ của thân chủ đó. Sau khi thực hiện xong các bước trên, thân chủ sẽ tiếp cận cá nhân cụ thể trên và bắt đầu trò chuyện với người đó. Xuyên suốt cuộc trò chuyện, thân chủ sẽ nỗ lực hết sức để tỏ ra thành thực, thấu cảm, và quan tâm, và đồng thời đưa ra các yêu cầu rõ ràng và khả thi về các phương hướng để cải thiện tình hình.

Khái niệm thứ ba trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực gắn liền với một phạm vi được gọi là “sự chân thật đáng sợ”. Cụm từ này đề cập đến những suy nghĩ ở trong tâm trí của thân chủ và được thân chủ thừa nhận, nhưng không thể được thân chủ nói lên thành lời do họ quá sợ hãi. Việc nghĩ sao nói vậy có thể được xem là trung thực, nhưng làm như vậy cũng sẽ rất “đáng sợ”. Việc phát triển nên một phương thức thực thành có thể khơi gợi đủ dũng khí để nói ra được những suy nghĩ trên chính là đang thực hành “sự chân thật đáng sợ”.

Tương tác có tính tâm lý

Khái niệm “tương tác tâm lý” được Carl Rogers sử dụng còn được gọi là “sự nối kết từ trái tim” trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực. Trong NVC, việc thiết lập các “mối dây nối kết” có ý nghĩa rất lớn, và nhiều người có chuyên môn sẽ xem việc này như mục đính duy nhất của cả tiến trình. Cũng như tham vấn viên NVC nổi tiếng có tên là Robert Gonzales đã từng nói:

“Chủ đích của NVC là tạo ra được một sự nối kết mà qua đó các nhu cầu của tất cả mọi người đều được trân quý như nhau và được đáp ứng thông qua việc tự nguyện cho đi”.

Cũng giống với các đức tính được nêu trên, chúng ta sẽ có nhiều hình thức thực hành trong NVC để nhận biết và củng cố chất lượng của sự gắn kết giữa người với người.

Các khái niệm chủ đạo khác về Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm

Khuynh hướng hiện thực hóa

NVC có một quan niệm cốt lõi cho rằng tất cả những gì mà con người thực hiện đều là những nỗ lực trong việc đáp ứng được các nhu cầu căn bản của họ. Một nhu cầu căn bản của con người sẽ khác với một chiến lược được đặt ra để đáp ứng được các nhu cầu, hay nói cách khác, nhu cầu đó không phải là của riêng một ai, và không phụ thuộc vào một nơi chốn, một vật thể, hay một hành động nhất định. Chẳng hạn, các khái niệm như “tình thương”, “sự công nhận”, “sự thấu hiểu”, “thành tích”, “cảm giác được chào đón”, và vân vân, đều là các nhu cầu căn bản của con người, trong khi các khái niệm như “Ông Smith”, “ngồi cạnh tôi”, “đọc sách”, “trúng giải”, và “có thẻ thành viên” đều có thể được xem là các chiến lược để đáp ứng được các nhu cầu và sẽ không được xem là các nhu cầu.

Vì vậy, khuynh hướng hiện thực hóa có thể được xem như là một sự ham muốn cơ bản thôi thúc mỗi người phải đáp ứng được các nhu cầu của bản thân. Khuynh hướng hiện thực hóa không phải là các nhu cầu căn bản của con người, mà là ham muốn cơ bản của con người trong việc thỏa mãn được các nhu cầu. Bản thân tôi tin rằng việc nhìn nhận sự việc qua phương hướng này sẽ giúp chúng ta nhìn ra được một bức tranh toàn cảnh rõ ràng hơn về cách thức mà khuynh hướng hiện thực hóa ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của chúng ta.

Sức mạnh cá nhân

Bản thân tôi nhận thấy rằng Giao Tiếp Phi Bạo Lực có mối liên hệ với sức mạnh cá nhân theo hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất, tiến trình này sẽ củng cố năng lực của mỗi người trong việc nhìn nhận thế giới xung quanh họ nếu dựa trên những quan sát rõ ràng và các yêu cầu khả thi mà độc lập và khác biệt với việc lý giải và đánh giá. Tôi tin rằng việc nhìn nhận thế giới theo đúng bản chất của nó thay vì dựa vào suy nghĩ của người khác về nó sẽ giúp con người có được một tầm hiểu biết đầy đủ hơn về việc tận dụng những gì thực sự tồn tại để có tiềm năng đáp ứng được các nhu cầu. Hướng thứ hai, NVC sẽ củng cố năng lực của mỗi người trong việc ý thức được các sự lựa chọn trong từng khoảnh khắc mà họ đưa ra để nỗ lực đáp ứng được các nhu cầu cụ thể. Một khi con người đã nhận thức được các nhu cầu mà mình muốn đáp ứng được trong một tình huống cụ thể, thì họ sẽ có thể đánh giá lại dự định của mình và đưa ra các lựa chọn mà họ nghĩ là sẽ có khả năng cao trong việc đáp ứng được các nhu cầu đó.

Giao Tiếp Phi Bạo Lực như một Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm hiện đại

Có thể “giảng dạy”

Sẽ luôn có những thứ rất cụ thể để một người hướng sự chú tâm của họ vào. Chẳng hạn, bạn có thể chú trọng vào “quan sát”, “cảm xúc”, “nhu cầu”, hoặc “thỉnh cầu” theo nhiều hướng khác nhau. Bạn có thể chú trọng vào yếu tố đó theo cách mà chúng có liên quan đến bạn trong hiện tại, quá khứ, hoặc tương lai, hoặc theo một người khác, hoặc bạn có thể chú trọng vào chúng theo những suy nghĩ của bạn về một người khác. Dưới sự hỗ trợ của một nhà trị liệu có trình độ, ta có thể liên tục hướng sự chú tâm của một thân chủ đến các phạm vi mà trong đó các khái niệm và phương thức của NVC có thể được áp dụng. Bạn cũng có thể phân chia NVC thành “mảng” nhỏ hơn. Chẳng hạn, bạn có thể  chú trọng riêng biệt vào từng yếu tố trong “quan sát”, “cảm xúc”, “nhu cầu”, hoặc “thỉnh cầu” cho đến khi bạn cảm thấy đủ tự tin với mỗi yếu tố để chuyển sang yếu tố khác. Chúng ta không nhất thiết phải nắm bắt được các khái niệm khác để tìm ra được giá trị của việc thực hiện một khái niệm nào đó.

thể học được

Có những tiến trình hướng dẫn theo từng bước cụ thể để áp dụng cho việc thực hành và học hỏi. Chúng ta có thể lặp đi lặp lại các tiến trình này cho đến khi định hình nên được các thói quen mới xoay quanh việc tận dụng chúng. Thêm vào đó, chúng ta có thể kiểm tra từng bước để đảm bảo được việc thực hiện theo đúng quy cách. Chẳng hạn, chúng ta sẽ những có cách để biết được đâu là yêu cầu, đâu là quan sát, hay đâu là nhu cầu, và vân vân.

Có thể minh họa/thị phạm

Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có thể được trình bày bởi những người được đào tạo về tiến trình đó và lựa chọn sử dụng nó. Các tình huống mà trong đó tiến trình này được trình bày bởi một hoặc nhiều người sử dụng NVC có thể được những người đã được đào tạo về NVC sắp xếp thành các màn kịch sắm vai.

Lời nhắn nhủ đến các bạn đọc

Để phát triển các kỹ năng và trình độ cho chính bản thân trong việc xây dựng nên sáu điều kiện mà ông Rogers đã cho là cần thiết trong việc thay đổi tính cách theo chiều hướng tích cực, tôi mong muốn các bạn tìm hiểu sâu hơn về Giao Tiếp Phi Bạo Lực.

Tài liệu tham khảo

d’Ansembourg, Thomas. (2007). Đừng nhu mì, hãy thành thực. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.

Rogers, Carl. (1989). Các điều kiện tiên quyết của sự chuyển biến về tính cách trong trị liệu. Tuyển tập Carl Rogers. Nhà xuất bản Mariner Books.

Rogers, Carl. (1967). Tác động từ các mối quan hệ trong trị liệu: Nghiên cứu về liệu pháp tâm lý cho bệnh tâm thần phân liệt. Nhà xuất bản The University of Wisconsin Press.

Rosenberg, Marshall. (2003). Làm giàu cho đời sống bằng giáo dục: NVC giúp cải thiện học lực trong trường, giảm thiểu xung đột và củng cố các mối quan hệ. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.

Rosenberg, Marshall. (2003). Giao Tiếp Phi Bạo Lực: Ngôn ngữ của đời sống. Tái bản lần thứ hai. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.

Phụ lục

Hướng Dẫn Tham Khảo Nhanh về Giao Tiếp Phi Bạo Lực

Bộc lộ chân thậtThấu cảm
Quan sát Khi tôi nhìn/nghe thấy…[Quan sát] [Khi bạn nhìn/nghe thấy…]
Cảm xúc Tôi cảm thấy…[Cảm xúc] [Có phải bạn cảm thấy…?]
Nhu cầu Vì tôi cần…[Nhu cầu] [Vì bạn cần…]
Thỉnh cầu Liệu bạn có sẵn lòng[Thỉnh cầu] [Bạn có muốn…?]

Quan sát: Mô tả những gì ta nhìn hoặc nghe thấy mà không kết hợp với sự diễn giải. Chẳng hạn, thay vì nói là “Con bé nó đang vùng vằng kìa”, thì bạn có thể nói là “Con bé nó đang nằm bò ra nhà mà khóc giẫy lên kia kìa”. Khi đề cập đến lời nói của một ai đó, hãy cố gắng trích dẫn nguyên văn lời nói của họ thay vì diễn đạt lại.

Cảm xúc: Nói về các cảm xúc chúng ta thay vì kể chuyện hay nói ra ý nghĩ về những gì người khác đang làm. Chẳng hạn, thay vì nói là “Tôi thấy bị dụ dỗ quá” để ám chỉ về hành vi của người khác, bạn có thể nói là “Tôi cảm thấy không thoải mái lắm”. Hãy tránh các cụm từ như: “Tôi thấy là…” và “Tôi nghĩ là…” – vì các từ đi theo sau sẽ trở thành ý nghĩ, chứ không phải cảm xúc.

Nhu cầu: Là nguyên nhân của cảm xúc, mang tính phổ quát, tiếp diễn và phụ thuộc vào các hành động của các cá nhân nhất định. Hãy nói ra các nhu cầu của bản thân thay vì nói về các hành động của người khác (nguyên do). Chẳng hạn, hãy nói là “Mẹ thấy khó chịu vì mẹ cần có người phụ mẹ” thay vì nói là “Mẹ thấy khó chịu vì con không rửa bát”.

Thỉnh cầu: Đưa ra các yêu cầu rõ ràng và chắc nịch về những gì mà chúng ta muốn (thay vì nói về những cái ta không muốn). Chẳng hạn, hãy nói là “Liệu anh có sẵn sàng quay lại đây vào tối hôm nay vào thời gian mà mình đã hẹn trước không?” thay vì nói là “Liệu anh có đảm bảo là không đến trễ nữa được không?” Theo như định nghĩa thì chúng ta đưa ra các yêu cầu, chúng ta có thể nghe được câu trả lời là “không”, và qua đó có thể tạo cơ hội để tiếp tục trao đổi.

Thấu cảm: Trong NVC, chúng ta sẽ cần thấu hiểu được người khác bằng việc suy đoán về các cảm xúc và nhu cầu của họ. Thay vì cố gắng giải quyết vấn đề, mục tiêu của chúng ta là sự thấu hiểu. Chúng ta đôi khi có thể bỏ qua việc quan sát và yêu cầu. Khi tình huống không cho phép hoặc không tạo điều kiện cho lời nói thì chúng ta có thể bày tỏ sự thấu cảm một cách thầm lặng.

Thấu cảm với bản thân: Trong việc bày tỏ sự thấu cảm với bản thân, chúng ta sẽ lắng nghe nội tâm để liên kết với các cảm xúc và nhu cầu của chính chúng ta. Mối liên kết này sẽ giúp chúng ta đặt ra các bước đi tiếp theo.

Danh sách về một số nhu cầu căn bản của con người

Sinh tồn về mặt thể chất   Không khí, dinh dưỡng, thức ăn, đào thải, nước, ngủ nghỉ, nơi ở, việc di chuyển, sự an toàn, cân bằng sinh học, biểu hiện tính dụcSự thân thiết   Va chạm, sự gần gũi, tình cảm thể xác, sự nhạy cảm, hơi ấm tình cảm, sự thân mật, thư giãn, sự dịu dàng, quan tâm, gắn bó, sự an ủi, tình thươngSự tự chủ   Sự tự do, không gian cá nhân, sự tự lập, ý chí, lựa chọn, sự kiên cường, cá tính, sự bền bỉ, quyền cá nhân
Tâm lý   Sự kích thích, tập trung, sự minh bạch / khả năng thấu hiểu, sự nhận biết, quan niệm, thông tin, ký ức, ý thức, suy tư, quan điểm, phân biệtBộc lộ bản thân   Sự sáng tạo, cảm giác được để ý, sự phát triển, nói chuyện, hồi phục, hát, học hỏi / thành thạo, ý nghĩa, giáo huấn, tạo hóaSự chính trực   Giá trị bản thân, tâm điểm, sự thành thực, danh tính, lòng tự trọng, sự điềm tĩnh, mục đích, sự quyết tâm, tầm nhìn / ước mơ, phương hướng, sự trung thực, phẩm giá
Tôn vinh cuộc sống   Sự sống, khoái cảm, niềm vui, thành tích, sự kích thích, phấn khích, khiêu vũ, khiếu hài hước, niềm đam mê, cường độ, vui chơi Tôn vinh sự mất mát: Khóc thương cho người thân đã mất, ước mơ chưa thực hiện, và vân vânTinh thần   Vẻ đẹp / thẩm mỹ, hạnh phúc, hòa hợp / hòa bình, ý thức về bản thân, trật tự, sự yên bình, lòng cảm tạ, đức tin, cảm hứng, hy vọng, giao thiệp, sự tồn tại, mục đích cao cả, vượt lên chính mìnhTương trợ lẫn nhau/Xã hội   Sự chấp thuận, lòng tin tưởng, bằng hữu, sự thấu cảm, cảm kích, hợp tác, cảm giác được chào đón, cộng đồng, đóng góp cho người khác, sự công nhận, trấn an, mối liên kết, danh tính nhóm, sự tôn trọng, hỗ trợ, trung thực từ người khác, sự tự do về cảm xúc, sự thấu hiểu, sự an toàn về cảm xúc

Quang Thái dịch, ThS Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính

Các kỹ thuật của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc và Trị liệu vui chơi

(Emotionally Focused Family Therapy and Play Therapy Techniques)

ANDREA K. WITTENBORN, ANTHONY J. FABER, ASHLEY M. HARVEY, and VOLKER K. THOMAS

Đại học Purdue, Thành phố West Lafayette, Bang Indiana, Mỹ

Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc cung cấp cho ta một bộ khung để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện những nhu cầu mang tính gắn bó như sự hỗ trợ trẻ và sự mang đến cho trẻ cảm giác thoải mái. Tuy vậy, trong quá trình làm việc với trẻ nhỏ, về mặt phát triển, trị liệu qua vui chơi lại thường được ưa chuộng hơn so với trị liệu qua trò chuyện. Bằng cách tích hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi trong khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc, các nhà trị liệu có thể giúp cho cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để phù hợp cho trẻ nhỏ và gia đình của các bé.

Trị liệu tập trung cảm xúc là một mô hình trị liệu được kiểm chứng dựa trên thực nghiệm dành cho các cặp đôi (gọi tắt là EFT; theo Greenberg và Johnson, 1988). EFT cũng đã được áp dụng cho các gia đình và được gọi với cái tên là Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc (gọi tắt là EFFT; theo Johnson và Lee, 2000). Mặc dù mô hình EFFT có sự hữu ích trong việc áp dụng với trẻ em và gia đình, trên thực tế các kỹ thuật của EFFT không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cho trẻ nhỏ do giới hạn trong khả năng giao tiếp và nhận thức của các bé. Trong quá trình làm viêc với trẻ nhỏ, các kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi lại thường được áp dụng (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Trị liệu vui chơi đã được áp dụng từ những năm 1930 và rất nhiều kỹ thuật đã được phát triển qua nhiều năm sau đó (theo Axline, 1969). Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với bộ khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để nó hiệu quả với trẻ nhỏ và gia đình của các bé.

TRỊ LIỆU VUI CHƠI

Một trong những thách thức của quá trình làm việc với trẻ nhỏ và gia đình của các bé chính là người lớn và trẻ nhỏ sống trong những thế giới khác nhau. Người lớn có được năng lực giao tiếp để bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc của họ, trong khi trẻ nhỏ thì chưa có sự phát triển đầy đủ về các kỹ năng phù hợp để làm được điều tương tự. Người lớn thường khuyến khích trẻ em bước vào thế giới của người lớn qua việc dùng từ ngữ để biểu đạt trải nghiệm của các bé. Tuy nhiên, cách này lại thường không hiệu quả. Trái lại, những người lớn khi bước vào thế giới của trẻ em không những thấu hiểu được trải nghiệm của các bé mà còn tạo ra sự gắn kết về mặt cảm xúc (theo Guerney và Guerney, 1989). Vào năm 1994, Gil tranh luận rằng “người lớn cần phải tránh việc áp đặt các tương tác của người lớn lên trẻ con và tránh việc yêu cầu các bé phải tương tác theo những hướng mà các bé không thể thỏa hiệp với người khác được” (trang 37). Do đó, trẻ nhỏ cần có một phương pháp thay thế để bộc lộ bản thân mình.

Việc vui chơi cung cấp cho trẻ em các cơ hội để bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của mình qua cả lời nói và cử chỉ. Vui chơi sẽ giúp cho trẻ phát triển các năng lực và kỹ năng giải quyết vấn đề (theo White, 1966); cho trẻ em nơi chốn để chúng có thể tiếp nhận những trải nghiệm và tình huống (Piaget, 1969); và cho phép trẻ em xử lý các hành vi và mối bận tâm bằng cách chơi đùa với chúng (theo Erikson, 1963). Nickerson (1973) tin rằng sự vui chơi là một phương tiện tự nhiên cho việc bộc lộ bản thân, tạo điều kiện cho việc giao tiếp của trẻ em và mở ra cửa sổ giúp người lớn quan sát và bước vào tâm trí của trẻ. Tuy nhiên, Chethik (1989) chỉ ra rằng việc vui chơi thường không mang lại sự thay đổi mà chính sự can thiệp và tận dụng các trò chơi của các nhà trị liệu mới làm được.

Các nhà trị liệu đã tận dụng rất nhiều phương pháp của Trị liệu vui chơi khi làm việc với trẻ. Một vài trong số đó bao gồm vui chơi tự do, chơi rối, vẽ, nghệ thuật, kể chuyện, chơi với cát, nước, bùn hay đất sét (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Một vài khung lý thuyết đã được kết hợp với các trị liệu trên để áp dụng cho trẻ em, bao gồm trị liệu tâm động năng, nhận thức-hành vi và Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái. EFFT là mô hình lý thuyết khác có khuynh hướng có thể được áp dụng với trẻ nhỏ nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa đề cập đến việc kết hợp các phương thức trong Trị liệu vui chơi với mô hình này.

TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH TẬP TRUNG CẢM XÚC

EFFT kết hợp sự điều tiết cảm xúc và các lý thuyết gắn bó cùng với các hướng tiếp cận mang tính hệ thống và có tính trải nghiệm. Theo EFFT, các vấn đề trong mối quan hệ được duy trì qua các mô hình tương tác tiêu cực dai dẳng, phản ánh các trạng thái cảm xúc sợ hãi và nóng giận. Những hành vi kém thích nghi được phát hiện trong các mô hình tương tác tiêu cực trên có thể được xem như là các song đề gắn bó dẫn đến nỗi đau chia cách. Cách mà các nhu cầu gắn bó của một cá nhân về sự an toàn, bảo vệ, và tiếp xúc được thực hiện, bị hạn chế, hoặc bị từ chối có thể gây ra nhiều vấn đề (theo Johnson, Maddeaux, và Blouin, 1998). Những cá nhân có kiểu hình gắn bó an toàn sẽ có xu hướng trông cậy vào những người mà họ gắn bó đặc biệt để tìm được sự an tâm và thể hiện được sự tự lập và tự tin. Trái lại, những ai có kiểu hình gắn bó bất an sẽ cường hóa các biểu cảm nóng giận và lo âu, đồng thời nằng nặc đòi người khác phải trấn an hoặc yêu cầu người khác tránh xa mình và hạn chế việc bộc lộ sự lo âu, đặc biệt là trong các tình huống khi họ cần được giúp đỡ nhất (theo Johnson cà các cộng sự, 1998).

Mục tiêu của EFFT là tái xử lý các trải nghiệm và tái tổ chức các tương tác để tạo ra các mối gắn kết an toàn giúp các thành viên gia đình tăng cường khả năng điều tiết cảm xúc, giải quyết vấn đề, và giao tiếp (theo Johnson, 1996; Johnson và Lee, 2000). Nói theo cách khác, EFFT sẽ giúp cho việc thiết lập lại sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình dễ dàng hơn bằng cách khuyến khích các trải nghiệm cảm xúc và tương tác mới.

Các nhà trị liệu sẽ tạo ra sự thay đổi bằng cách: (1) Nuôi dưỡng một liên minh trị liệu an toàn để thúc đẩy sự tham gia (của thân chủ) vào tiến trình thay đổi, (2) Tiếp cận và mở rộng các phản hồi cảm xúc trong một bối cảnh gắn bó và (3) Tái cơ cấu các tương tác mang tính then chốt (theo Johnson, 2004). Các phương thức can thiệp cụ thể (ví dụ như xác thực, tô đậm trải nghiệm, và tái định khung) giúp các nhà trị liệu làm tròn các nhiệm vụ trên đã được đề cập trong bài báo của Johnson (2004).

Quá trình thay đổi sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn thay đổi đầu tiên bao gồm việc làm giảm chu kỳ của chu trình tương tác tiêu cực (theo Johnson, 2004). Mô hình tương tác đeo đuổi-trốn tránh là một mô hình tương tác phổ biến trong EFT. Trong mô hình này, người chạy theo thường sẽ đổ lỗi hoặc công kích người trốn tránh. Người trốn tránh thường ở thế bị động hơn và né tránh người theo đuổi. Leo thang sẽ giảm đi khi người trốn tránh bắt đầu tương tác nhiều hơn còn người đeo đuổi thì bớt phản ứng thái quá hơn.

Giai đoạn thay đổi thứ hai xoay quanh sự tương tác của người trốn tránh (theo Johnson, 2004). Giai đoạn này sẽ diễn ra khi người trốn tránh bắt đầu chấp nhận nhiều rủi ro hơn để bộc lộ các nhu cầu và ý muốn của họ. Họ sẽ tương tác cảm xúc nhiều hơn với người còn lại. Một khi người trốn tránh tương tác nhiều hơn trong mối quan hệ, người đeo đuổi sẽ trở nên mềm mỏng, đồng thời sẵn sàng chịu tổn thương hơn và đưa ra nhiều mạo hiểm về cảm xúc hơn (theo Greenberg và Johnson, 1988). Và sau cùng, người trốn tránh sẽ có khả năng động viên và trấn an người đeo đuổi và ngược lại. Theo đó, nhu cầu gắn bó của mỗi bên sẽ được thoả mãn, dẫn đến các tương tác gắn bó, giao tiếp tốt hơn và giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. (theo Johnson, 2004).

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA EFT/EFFT

EFT/EFFT bao gồm 9 bước được chia ra làm ba giai đoạn (theo Johnson, 1996). Với mục đích đơn giản hóa, chúng tôi sẽ chỉ tóm tắt ba giai đoạn còn mô tả về 9 bước vốn đã được viết trong rất nhiều nguồn (ví dụ, theo Johnson, 1996; Johnson và Denton, 2002). Tuy các giai đoạn này thường được mô tả theo hướng của các cặp đôi, hoặc các bậc cha mẹ và con cái lớn tuổi, chúng tôi đã có sự điều chỉnh nhỏ trong mô tả để phù hợp với trẻ nhỏ hơn.

Giai đoạn một: Xuống thang chu trình tương tác tiêu cực

Sau quá trình đánh giá và tạo nên mối liên minh trị liệu, giai đoạn đầu tiên chủ yếu tập trung vào việc làm xuống thang/giảm chu trình tương tác tiêu cực giữa cha mẹ và con cái. Trong giai đoạn này, các nhà trị liệu sẽ sử dụng các lăng kính điều tiết cảm xúc và sự gắn bó để theo dõi vòng lặp đã gây ra vấn đề cũng như để tìm hiểu các nhu cầu gắn bó và cảm xúc tiềm ẩn của cha mẹ và con cái. Họ sẽ chú ý đặc biệt đến phương hướng mà cha mẹ và con cái đeo đuổi và trốn tránh lẫn nhau. Sau đó, các vấn đề sẽ được tái định khung dựa theo vòng lặp trên, để có thể nhìn nhận nó mới chính là kẻ thù cho mối quan hệ (theo Johnson và Denton, 2002). Ta lấy một ví dụ, khi một cậu bé Billy sáu tuổi không hoàn thành được một công việc được giao, bé sẽ trở nên bực dọc và đòi mẹ mình phải làm thay. Khi mẹ từ chối, Billy có hành vi đánh mẹ, khiến cho mẹ rời khỏi phòng và nói với bé rằng mẹ chỉ nói chuyện khi bé bình tĩnh lại. Billy chạy theo mẹ rồi đánh mẹ nhiều hơn nữa. Nhà trị liệu cho rằng người mẹ thực sự quan tâm đến Billy và mong con mình tự thành thục được công việc, thay vì làm thay cho con. Nhà trị liệu cũng sẽ tái định khung hành vi của Billy là nỗi sợ vắng bóng mẹ thay vì là sự phản kháng và tức giận. Sau đó, nhà trị liệu đã chỉ ra rằng sự nóng giận và bực tức sẽ làm leo thang các tương tác giữa mẹ và Billy và tự hỏi rằng liệu gia đình có thể đối mặt với các vấn đề trên theo một cách khác hay không.

Giai đoạn hai: Tái định hình các tương tác

Trong giai đoạn thứ hai của quá trình trị liệu, nhà trị liệu sẽ đào sâu hơn vào các nhu cầu gắn bó và hỗ trợ từng thành viên trong gia đình diễn đạt rõ ràng, thừa nhận các nhu cầu đó cùng cảm xúc ứng tương ứng. Đối với trẻ nhỏ, nhà trị liệu cần phải trở thành tiếng nói cho trẻ, và giúp các bậc cha mẹ thấu hiểu các nhu cầu gắn bó và hành vi của trẻ. Sau đó, nhà trị liệu sẽ hỗ trợ cha mẹ trong việc xử lý và chấp nhận trải nghiệm của chính họ và con của họ. Tiếp theo đó, nhà trị liệu sẽ làm việc với những cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu né tránh để tích cực giúp họ tương tác trong mối quan hệ, đồng thời giải toả căng thẳng cho các cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu theo đuổi bằng cách nhấn mạnh những điều dễ bị tổn thương và nhu cầu gắn bó của họ. Một khi các thành viên đã được hỗ trợ để có thể đối mặt với người còn lại dưới một góc nhìn mới, các hoạt động gắn kết sẽ có thể diễn ra để hàn gắn hoặc tạo nên một mối gắn bó an toàn. Theo đó, con cái sẽ cảm nhận được sự thay đổi bên trong mô hình tâm trí bên trong về chính mình và cả cha mẹ. Các bé sẽ nhận định được rằng bản thân mình gây được thiện cảm với người khác và xứng đáng được trấn an, và thấy được rằng cha mẹ là nơi an toàn cung cấp được sự trấn an đó. Trong ví dụ của Billy và mẹ của bé, nhà trị liệu sẽ giúp cho người mẹ thấy được nỗi sợ (về sự thất bại và sau cùng là mất mẹ) đằng sau sự nóng giận, bực bội của Billy và khuyến khích người mẹ ở cùng với Billy thay vì né tránh và phủ nhận sự bực tức và nỗi sợ của mình. Billy được khuyến khích bộc lộ sự bực tức, thứ mà nhà trị liệu diễn giải là nỗi sợ hãi, qua hình thức vui chơi. Sau đó, mẹ và Billy sẽ học được cách điều tiết cảm xúc khác mà không khiến mọi thứ leo thang thành vòng lặp giữa theo đuổi và né tránh. Bằng những cách thức trên, mẹ của Billy sẽ ôm bé để an ủi và động viên khi bé bực tức, ở bên cạnh và giúp bé hoàn thành công việc mà không làm thay cho bé. Hướng đi này sẽ giúp Billy cảm thấy an toàn và bớt bực tức, giúp cho em hoàn thành được việc em làm. Đồng thời, mẹ của bé sẽ đỡ tức giận hơn và ít cảm giác né tránh hơn trước kia.

Giai đoạn ba: Củng cố và Thống hợp

Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ đánh giá và giúp gia đình tạo ra một chu trình tương tác mới. Nhà trị liệu và gia đình sẽ cùng làm việc với nhau để bàn luận về những thay đổi trong tương tác của họ (theo Johnson và Denton, 2002). Các bậc cha mẹ cũng sẽ được hướng dẫn cách giải quyết các vấn đề cụ thể và những tình huống thực tế bằng việc áp dụng mô hình tương tác mới. Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ tìm hiểu các phương pháp mà Billy và mẹ của bé đã áp dụng ở nhà khi Billy nổi nóng với việc bé đang làm và cách giúp mẹ con tránh được việc lại sa vào vòng lẩn quẩn đeo đuổi-trốn tránh vốn đang leo thang dẫn đến việc Billy đánh mẹ. Người mẹ đã báo cáo rằng giờ đây mỗi lần Billy nổi nóng, mẹ sẽ ở bên cạnh và bày tỏ cảm xúc với Billy. Rồi cô sẽ hỏi bé mình có thể làm gì để giúp bé hoàn thành việc bé đang làm. Từ đó, mẹ và bé cùng nhau xây dựng nên một phương pháp vui chơi mà ở đó Billy là người dẫn đầu, còn mẹ là người hỗ trợ, cho đế khi cả hai tìm được giải pháp. Hai mẹ con đều có được cảm giác làm chủ mà trong đó Billy là người làm chủ quá trình làm việc gì đó, còn mẹ đóng vai trợ giúp cho bé.

KẾT HỢP EFFT VÀ CÁC KỸ THUẬT CỦA TRỊ LIỆU VUI CHƠI

Mặc dù chúng tôi tin rằng EFFT cung cấp cho ta nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện nhu cầu gắn bó về sự hỗ trợ và an tâm, chúng tôi cũng đã nhận ra rằng áp dụng hình thức trị liệu trò chuyện có thể gặp khó khăn khi làm việc với trẻ nhỏ. Vì vậy, chúng tôi đã kết hợp một số kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi với EFFT để áp dụng EFFT cho các gia đình có con nhỏ. Bài viết của Johnson (2004) sẽ đề cập rõ hơn về tổng quan của các phương pháp EFT.

Đánh giá và Theo dõi chu trình tương tác

Theo dõi chu trình tương tác của mỗi gia đình là một trong những điểm quan trọng của EFFT. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với các gia đình có con nhỏ, việc theo dõi chu trình tương tác và hiểu được vị thế của mỗi thành viên có thể gặp khó khăn một phần là bởi họ đang làm việc với hai thế giới khác nhau, thế giới của người lớn và thế giới của trẻ con. Nhà trị liệu chính là cầu nối giữa hai thế giới đó. Để thương lượng với hai thế giới đó, ta có thể áp dụng một số chiến lược khác nhau.

Đầu tiên, nhà trị liệu có thể gặp gỡ các cha mẹ để xác định những mâu thuẫn, vấn đề đang gặp phải và bắt đầu quá trình theo dõi chu trình tương tác của gia đình họ dựa trên lời kể của cha mẹ. Nhà trị liệu sẽ tập trung cách mà các thành viên trong gia đình tương tác với nhau trước những mâu thuẫn. Nhà trị liệu cũng sẽ xác nhận tâm thế của từng thành viên trong gia đình. Điều này rất giống với cách mà con người đánh giá về chu trình tương tác giữa một trẻ vị thành niên và gia đình của em, ngoại trừ trường hợp đứa trẻ không tích cực tương tác.

Một khi nhà trị liệu đã hiểu rõ chu trình tương tác và tâm thế của các cha mẹ, họ có thể bắt đầu xác nhận và thấu hiểu được góc nhìn của đứa trẻ. Quá trình này có thể đạt được thông qua vui chơi tự do và vui chơi theo chỉ dẫn. Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái là một phương pháp dựa trên bằng chứng cho thấy việc sử dụng hình thức vui chơi tự do thật sự mang lại hiệu quả cao (theo Guerney và Guerney, 1989). Trị liệu trên hỗ trợ trẻ em vui chơi tự do không theo chỉ dẫn trong khi nhà trị liệu phản ánh lại các trải nghiệm của các em với chính các em. Quá trình này giúp nhà trị liệu bắt đầu việc tham gia cùng đứa trẻ và kiểm tra trải nghiệm của các em. Trong suốt quá trình vui chơi tự do, nhà trị liệu sẽ tìm kiếm những chủ đề nổi bật để có cái nhìn thấu suốt vào góc nhìn của đứa trẻ trong chu trình tương tác, và để xác định được kiểu hình và nhu cầu gắn bó của các em.

Ta lấy một ví dụ, Ann, một bé gái tám tuổi, được cha mẹ đưa đi trị liệu do bé không muốn đi học. Trong một phiên làm việc với cha mẹ, nhà trị liệu nhận ra rằng người bố rất mất kiên nhẫn với Ann vào sáng sớm khi bé không chịu chuẩn bị để có thể đến trường đúng giờ. Người bố càng thúc giục, Ann càng không vâng lời và cuối cùng trốn vào phòng tắm khóc. Nỗ lực nói chuyện với Ann của người mẹ đã khiến em bị lỡ mất chuyến xe buýt đến trường. Điền này đã làm người bố tức đến mức giận dữ lao ra cửa và quát cả mẹ lẫn Ann. Đến lúc này, Ann buồn đến mức không còn chịu đi học. Còn người mẹ thì cảm thấy có lỗi nên đã phải ở nhà với em. Trong một phiên Trị liệu vui chơi tự do, Ann đã sử dụng những con rối để diễn lại tình huống sau: một con chó con (giả làm Ann) tỏ ý không chịu vui chơi, vì nó sợ rằng bố nó sẽ bỏ đi và không bao giờ muốn quay lại nữa. Mẹ cũng có cùng nỗi sợ như vậy. Cho nên nó ra sức an ủi mẹ và bảo với mẹ rằng nó sẽ không bao giờ lớn lên để rồi bỏ đi như thế mà sẽ ở với mẹ đến hết phần đời còn lại (tức là Ann sẽ không chịu đến trường nữa).

Vui chơi theo chỉ dẫn như chơi ngôi nhà búp bê cũng có thể mang lại hiệu quả trong việc thấu hiểu chu trình tương tác bằng cách chơi với búp bê. Sau đó, nhà trị liệu có thể tận dụng cơ hội này để làm rõ vị trí của con búp bê, giúp họ nhận định gián tiếp góc nhìn của các em. Bằng việc quan sát chu trình tương tác được thể hiện thông qua quá trình vui chơi của trẻ, nhà trị liệu có thể hiểu được tâm thế của các em và cách mà các em nhìn nhận các tương tác với cha mẹ mình.

Ngoài vui chơi tự do và theo chỉ dẫn, ta cũng cần phải quan sát hành vi của trẻ trong suốt quá trình xa cách và sum họp với mỗi bậc cha mẹ. Việc quan sát cách phản ứng của trẻ khi cha mẹ rời đi để ngồi trong phòng chờ và khi trẻ quay về với họ có thể cung cấp các thông tin đáng giá về kiểu hình gắn bó của trẻ (an toàn, né tránh, mâu thuẫn, vô tổ chức). Thêm vào đó, ta có thể bắt đầu hiểu được rằng một đứa trẻ sẽ có mô hình tâm trí như thế nào. Ví dụ, khi nói đến mô hình tâm trí, ta cần biết được rằng liệu đứa trẻ đó có xem cha mẹ mình là nơi trẻ tin là có thể đáp ứng được nhu cầu của trẻ và mang đến sự an toàn hay liệu trẻ xem cha mẹ mình là những người thờ ơ về mặt cảm xúc. Trong trường hợp của bé Ann, bé rõ ràng không tin rằng bố mình sẵn lòng dù là về vật chất hay cảm xúc. Mô hình nội tâm của Ann không thể hiện được kiểu hình gắn bó an toàn.

Phương pháp cuối cùng được áp dụng để đánh giá chu trình tương tác được gọi là hình thức vui chơi gia đình có cấu trúc và phi cấu trúc. Nhà trị liệu có thể yêu cầu các gia đình cùng vui chơi trong quá trình họ quan sát những tương tác của các gia đình đó. Nhà trị liệu sẽ quan sát các tương tác giữa các thành viên khác nhau trong gia đình để hỗ trợ đánh giá tâm thế gắn bó của mỗi người (đeo đuổi hay trốn tránh). Các nhà trị liệu cần phải ghi nhớ các câu hỏi sau đây: Cha hay mẹ sẽ vui chơi cùng con hay cả hai? Những đứa trẻ chơi cùng ai trước hay các em tự tách rời ra để chơi một mình? Nếu bọn trẻ có anh chị em, giữa những đứa trẻ và anh chị em của chúng có những tương tác nào? Nếu nhà trị liệu may mắn, gia đình có thể bộc lộ được chu trình tương tác của họ trong ngay khoảng thời gian này. Trong một phiên Trị liệu vui chơi có cấu trúc với gia đình Ann, nhà trị liệu đã hỏi ba thành viên trong gia đình để dựng lên một vở kịch rối có đoạn mở đầu, nội dung chính, và kết thúc. Người mẹ chọn một con mèo, còn người bố thì chọn một con khỉ đột có sắc mặt ủ dột. Theo diễn tiến của câu chuyện, con khỉ đột đã ra sức kiểm soát tình huống bằng cách bảo mèo và chó làm như thế này thế kia. Con chó bỏ chạy, trong khi con mèo thì lại không biết phải thế nào. Khi con khỉ đột quát con mèo thì con chó quay lại để an ủi con mèo vốn đang buồn bã. Sau khi câu chuyện kết thúc, nhà trị liệu phân tích vở kịch bằng việc hỏi các thành viên gia đình với các câu hỏi như: Khi con chó chạy đi thì con mèo và khỉ đột cảm thấy như thế nào? Khi con khỉ đột đánh con mèo thì con chó cảm thấy như thế nào? Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu bạn là con khỉ đột? Đã từng có điều gì tương tự xảy đến với bạn chưa? Và bạn cảm thấy thế nào nếu điều đó xảy ra? Thông qua quá trình này, nhà trị liệu có thể xây dựng các ý tưởng khả thi về những cảm xúc tiềm ẩn của các thành viên trong gia đình.

Tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn

Tiếp cận được những cảm xúc tiềm ẩn là cũng một bước quan trọng trong EEFT. Các thành viên gia đình cần phải học được cách xác định và biểu lộ được những cảm xúc tổn thương mà họ đang cảm nhận được, thường có xu hướng bị che giấu bằng những cảm xúc ít bị tổn thương và ít công khai hơn. Chẳng hạn như, một người bố có thể tỏ vẻ giận dữ với con gái mình khi cô bé về nhà quá giờ giới nghiêm. Tuy nhiên, ẩn sau cơn giận đó, người bố có thể lo sợ về các nguy hiểm tiềm ẩn mà con gái mình có thể gặp phải. Trong ví dụ trên, bé gái có thể sẽ chỉ nhìn thấy cơn giận của bố mình, thay vì nỗi sợ mà người bố đang cảm nhận.

Sau khi đã nhận diện được những cảm xúc tiềm ẩn, ta có thể tận dụng chúng cùng với các nhu cầu gắn bó để mô tả chu trình tương tác mà qua đó cả gia đình tiếp xúc với nhau, điều đã được bàn luận trong phần trước. Trong khi đối với trẻ lớn hơn, những cảm xúc tiềm ẩn được tiếp cận thông qua trò chuyện, thì việc tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn bằng trị liệu trò chuyện với trẻ nhỏ sẽ khó khăn hơn. Một số phương pháp được áp dụng để đánh giá các cảm xúc trên ở trẻ nhỏ hơn sẽ được bàn luận ở phần dưới đây.

Phương pháp “tô màu cuộc sống” có thể được áp dụng để nhận diện các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Theo phương pháp này, các nhà trị liệu sẽ yêu cầu các em ghép một màu sắc với một cảm xúc tương ứng (ví dụ như hạnh phúc là màu vàng, giận dữ là màu đỏ, buồn bã là màu xanh, sợ hãi là màu tím). Sau khi trẻ đã đưa ra các cặp ghép đôi màu sắc/cảm xúc có thể thực hành được, thường là tám cặp, các em có thể sử sụng bút màu và giấy để vẽ. Nhà trị liệu sẽ cần phải chỉ dẫn cho các em sử sụng những màu sắc này để thể hiện các cảm xúc của mình. Các nhà trị liệu có thể nói những điều như, “Nếu cháu cảm thấy hạnh phúc trong khoảng một nữa quãng đời của mình thì cháu hãy tô vàng một nửa tờ giấy” (theo Gil, 1994).

Thêm vào đó, một trong những tác giả đã thiết kế ra một dạng trò chơi để nhận diện được các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ, được gọi là trò chơi nóng-ấm-lạnh. Trò chơi này đã phát huy được hiệu quả đặc biệt lớn đối với Joey, một cậu bé 7 tuổi, khi em tỏ ra miễn cưỡng khi tham gia trị liệu cùng mẹ, khá né tránh bộc lộ cảm xúc, và gặp khó khăn khi tham gia vào cả Trị liệu vui chơi hay trị liệu trò chuyện. Trong trò chơi này, Joey có thể giữ im lặng còn nhà trị liệu và mẹ của em sẽ đoán xem những gì em có thể đang phải trải qua. Sau đó, Joey sẽ sự dụng phấn màu vẽ lên bảng để cho nhà trị liệu và mẹ em biết được rằng liệu họ có hiểu được cảm giác của em hay không (lạnh là không chính xác, còn nóng là rất chính xác). Trong tình huống này, Joey đã có thể bày tỏ rằng em đang trải qua cảm giác mẹ né tránh mình. Người mẹ sau đó đã bắt đầu hiểu được góc nhìn của Joey.

Hỗ trợ các thành viên gia đình chấp nhận góc nhìn của nhau

Trong quá trình làm việc với cha mẹ và trẻ nhỏ, điều quan trọng là cần phải dùng giai đoạn này trong EFFT để hỗ trợ cho các bậc cha mẹ lắng nghe cũng như hiểu được nhu cầu của con em họ để có được sự an tâm và gắn kết. Một lần nữa, trẻ em thường có xu hướng né tránh bộc lộ nhu cầu tình cảm và gắn bó qua lời nói. Do đó, ta cần phải hỗ trợ cho các bậc cha mẹ hiểu được góc nhìn của con em mình, nhưng phải làm theo cách mà họ không cảm thấy bị đỗ lỗi. Thông qua việc giúp cha mẹ hiểu được góc nhìn của con cái, họ sẽ bắt đầu nhận ra được cách mà các tương tác của họ ảnh hưởng đến con mình như thế nào. Từ đó cha mẹ có thể công nhận những trải nghiệm của con cái và bắt đầu nhìn nhận con cái bằng một góc nhìn khác.

Trong trường hợp của Ann, nhà trị liệu sẽ yêu cầu các thành viên trong gia đình diễn lại vở kịch rối lần lượt với các vai diễn khác nhau. Đầu tiên, người bố sẽ đóng vai chó, mẹ đóng vai mèo, còn Ann thì vào vai khỉ. Sau đó, người mẹ sẽ đóng vai cún, bố đóng vai khỉ đột, còn bé Ann đóng vai mèo. Và cuối cùng, mẹ và bố sẽ đổi vai cho nhau (mẹ vào vai khỉ đột, còn bố vào vai mèo), trong khi Ann vẫn sẽ là chó. Sự thay đổi trong vai diễn giúp cho bố và mẹ đứng ở góc nhìn của Ann để cảm nhận được các phản ứng của em trước các cư xử của bố mẹ, và cũng giúp cho Ann hiểu được góc nhìn của bố mẹ mình.

Vấn Đề Cũ, Giải Pháp Mới

Một khi chúng ta đã làm giảm sự leo thang của vòng lặp tương tác tiêu cực và khi các thành viên gia đình hiểu rõ và chấp nhận góc nhìn của nhau, việc giải quyết vấn đề và thỏa hiệp sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thông qua việc vui chơi và trị liệu, đứa trẻ sẽ truyền đạt được nhu cầu và cảm xúc của bản thân trong khi cha mẹ sẽ hiểu rõ hơn các nhu cầu và mong muốn của con mình. Chính vì vậy, thông qua thảo luận, cha mẹ có thể bắt đầu giải quyết vấn đề và thỏa hiệp với con cái theo các phương hướng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đó hơn. Ngoài ra, cha mẹ cũng có trao đổi với con cái những cách con cái có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của mình, chẳng hạn như bộc lộ sự nóng giận hay buồn bã theo các cách phù hợp hơn.

Ann và bố mẹ của em sẽ thương lượng với nhau về các giải pháp mới thông qua vở kịch rối. Khỉ đột sẽ chấp nhận thông cảm hơn với chó và mèo. Khi chó chạy đi, khỉ đột sẽ không la mắng mèo, mà sẽ cùng mèo lo lắng cho chó và cùng nhau đi tìm chó. Để rồi khi tìm thấy chó, chó sẽ vui mừng và ôm chặt lấy mèo và khỉ đột. Cả gia đình củng nhau đi về nhà, trong khi khỉ đột cõng chó con trên lưng mình. Trong quá trình nhà trị liệu phân tích vở kịch với gia đình, người bố cho biết ông đã từng cõng Ann trên lưng do em mệt mỏi vì đi bộ đường dài khi em còn nhỏ. Gia đình sẽ đưa “giải pháp mới” này từ trò chơi kịch rối vào “đời thực” của họ bằng cách thay đổi thói quen mỗi buổi sáng của họ. Bố Ann sẽ dậy sớm hơn một chút và bĩnh tĩnh giúp Ann chuẩn bị đến trường. Tiếp đó, cả gia đình sẽ dành chút thời gian ăn sáng cùng. Khi đã đến giờ đi học, bố sẽ vào vai chú khỉ đột “thân thiện” và cõng “chó con” trên vai mình đến cửa. Sau đó, bố sẽ thả Ann xuống, thơm em, và dẫn em đến xe buýt để đến trường (điều mà bố mẹ từ trước giờ chưa làm vì họ cho là Ann đã “lớn rồi”). Bằng cách này, Ann sẽ cảm thấy an toàn hơn khi di chuyển từ nhà đến trường và nỗi sợ đến trường của bé rồi cũng sẽ nhanh chóng vơi đi.

KẾT LUẬN

Bài báo này đã được viết ra với mục đích phản hồi về tình trạng thiếu hụt nghiên cứu về áp dụng mô hình EFFT cho các gia đình có con nhỏ. EFFT cung cấp cho ta một nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ về nhu cầu gắn bó về sự an ủi và hỗ trợ. Bằng cách kết hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi với khung lý thuyết của EFFT, các nhà trị liệu có thể giúp cho bậc cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Các phương thức được bàn luận ở đây chỉ đơn thuần là những gợi ý và chúng tôi khuyến khích những người khác kết hợp thêm các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi vào quá trình EFFT của họ để áp dụng cho các trẻ nhỏ và gia đình.

(Quang Thái và Kim Hà dịch; ThS tâm lý Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Axline, V. (1969). Trị liệu giải trí (tái bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Ballatine.

Chethik, M. (1969). Các phương pháp trị liệu cho trẻ em: Các chiến lược tâm lý động lực. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Erikson, E. H. (1963). Tuổi thơ và xã hội. Thành phố New York: Nhà xuất bản W. W. Norton.

Gil, E. (1994). Vui chơi trong trị liệu gia đình. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.

Greenberg, L. S., & Johnson, S. M. (1988). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Guerney, L., & Guerney, B. (1989). Cải thiện quan hệ với con cái: Trị liệu gia đình và giáo dục cho cha mẹ. Báo Đánh giá cá nhân, tập 4, trang 344-357.

Johnson, S. M. (2004). Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên sự gắn kết (tái bản lần 2). Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner-Routledge.

Johnson, S. M. (1996). Tạo dựng sự gắn kết: Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc trong hôn nhân. Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner/Mazel.

Johnson, S. M., & Lee, A. C. (2000). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc: Tái định hình sự gắn bó. Tại C. E. Bailey, Sách Trẻ em trong trị liệu (trang 112-133). Thành phố New York: Nhà xuất bản Norton.

Johnson, S. M., & Denton, W. (2002). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên các mối gắn kết an toàn. Tại A. S. Gurman, Sách Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi (trang 221-250). Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.

Johnson, S. M., Maddeaux, D., & Blouin, J. (1998). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc đối với chứng cuồng ăn: Thay đổi các phương thức gắn bó. Báo Trị liệu tâm lý, tập 35, trang 238-247.

Nickerson, E. T. (1973). Các xu hướng và cải tiến mới trong trị liệu giải trí. Báo Tạo chí quốc tế về trị liệu tâm lý cho trẻ em, tập 2, trang 53-70.

Piaget, J. (1969). Cơ chế của sự nhận thức. Thành phố New York: Nhà xuất bản Basic Books.

Schaefer, C. E., & O’Connor, K. J. (1983). Sổ tay trị liệu giải trí. Thành phố New York: Nhà xuất bản Wiley.

White, R. W. (1966). Đời sống biến chuyển (2 bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Holt, Rinehart & Winston.

================

Tạp chí Mỹ về Trị liệu Gia đình, tập 34:trang 333-342, năm 2006

Bản quyền © Taylor & Francis Group, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn

Số ISSN (bản in): 0192-6187 / 1521-0383 (bản online)

Số DOI: 10.1080/01926180600553472

Nhà xuất bản Routledge, công ty Taylor & Francis Group