Các kỹ thuật của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc và Trị liệu vui chơi

(Emotionally Focused Family Therapy and Play Therapy Techniques)

ANDREA K. WITTENBORN, ANTHONY J. FABER, ASHLEY M. HARVEY, and VOLKER K. THOMAS

Đại học Purdue, Thành phố West Lafayette, Bang Indiana, Mỹ

Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc cung cấp cho ta một bộ khung để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện những nhu cầu mang tính gắn bó như sự hỗ trợ trẻ và sự mang đến cho trẻ cảm giác thoải mái. Tuy vậy, trong quá trình làm việc với trẻ nhỏ, về mặt phát triển, trị liệu qua vui chơi lại thường được ưa chuộng hơn so với trị liệu qua trò chuyện. Bằng cách tích hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi trong khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc, các nhà trị liệu có thể giúp cho cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để phù hợp cho trẻ nhỏ và gia đình của các bé.

Trị liệu tập trung cảm xúc là một mô hình trị liệu được kiểm chứng dựa trên thực nghiệm dành cho các cặp đôi (gọi tắt là EFT; theo Greenberg và Johnson, 1988). EFT cũng đã được áp dụng cho các gia đình và được gọi với cái tên là Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc (gọi tắt là EFFT; theo Johnson và Lee, 2000). Mặc dù mô hình EFFT có sự hữu ích trong việc áp dụng với trẻ em và gia đình, trên thực tế các kỹ thuật của EFFT không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cho trẻ nhỏ do giới hạn trong khả năng giao tiếp và nhận thức của các bé. Trong quá trình làm viêc với trẻ nhỏ, các kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi lại thường được áp dụng (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Trị liệu vui chơi đã được áp dụng từ những năm 1930 và rất nhiều kỹ thuật đã được phát triển qua nhiều năm sau đó (theo Axline, 1969). Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với bộ khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để nó hiệu quả với trẻ nhỏ và gia đình của các bé.

TRỊ LIỆU VUI CHƠI

Một trong những thách thức của quá trình làm việc với trẻ nhỏ và gia đình của các bé chính là người lớn và trẻ nhỏ sống trong những thế giới khác nhau. Người lớn có được năng lực giao tiếp để bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc của họ, trong khi trẻ nhỏ thì chưa có sự phát triển đầy đủ về các kỹ năng phù hợp để làm được điều tương tự. Người lớn thường khuyến khích trẻ em bước vào thế giới của người lớn qua việc dùng từ ngữ để biểu đạt trải nghiệm của các bé. Tuy nhiên, cách này lại thường không hiệu quả. Trái lại, những người lớn khi bước vào thế giới của trẻ em không những thấu hiểu được trải nghiệm của các bé mà còn tạo ra sự gắn kết về mặt cảm xúc (theo Guerney và Guerney, 1989). Vào năm 1994, Gil tranh luận rằng “người lớn cần phải tránh việc áp đặt các tương tác của người lớn lên trẻ con và tránh việc yêu cầu các bé phải tương tác theo những hướng mà các bé không thể thỏa hiệp với người khác được” (trang 37). Do đó, trẻ nhỏ cần có một phương pháp thay thế để bộc lộ bản thân mình.

Việc vui chơi cung cấp cho trẻ em các cơ hội để bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của mình qua cả lời nói và cử chỉ. Vui chơi sẽ giúp cho trẻ phát triển các năng lực và kỹ năng giải quyết vấn đề (theo White, 1966); cho trẻ em nơi chốn để chúng có thể tiếp nhận những trải nghiệm và tình huống (Piaget, 1969); và cho phép trẻ em xử lý các hành vi và mối bận tâm bằng cách chơi đùa với chúng (theo Erikson, 1963). Nickerson (1973) tin rằng sự vui chơi là một phương tiện tự nhiên cho việc bộc lộ bản thân, tạo điều kiện cho việc giao tiếp của trẻ em và mở ra cửa sổ giúp người lớn quan sát và bước vào tâm trí của trẻ. Tuy nhiên, Chethik (1989) chỉ ra rằng việc vui chơi thường không mang lại sự thay đổi mà chính sự can thiệp và tận dụng các trò chơi của các nhà trị liệu mới làm được.

Các nhà trị liệu đã tận dụng rất nhiều phương pháp của Trị liệu vui chơi khi làm việc với trẻ. Một vài trong số đó bao gồm vui chơi tự do, chơi rối, vẽ, nghệ thuật, kể chuyện, chơi với cát, nước, bùn hay đất sét (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Một vài khung lý thuyết đã được kết hợp với các trị liệu trên để áp dụng cho trẻ em, bao gồm trị liệu tâm động năng, nhận thức-hành vi và Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái. EFFT là mô hình lý thuyết khác có khuynh hướng có thể được áp dụng với trẻ nhỏ nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa đề cập đến việc kết hợp các phương thức trong Trị liệu vui chơi với mô hình này.

TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH TẬP TRUNG CẢM XÚC

EFFT kết hợp sự điều tiết cảm xúc và các lý thuyết gắn bó cùng với các hướng tiếp cận mang tính hệ thống và có tính trải nghiệm. Theo EFFT, các vấn đề trong mối quan hệ được duy trì qua các mô hình tương tác tiêu cực dai dẳng, phản ánh các trạng thái cảm xúc sợ hãi và nóng giận. Những hành vi kém thích nghi được phát hiện trong các mô hình tương tác tiêu cực trên có thể được xem như là các song đề gắn bó dẫn đến nỗi đau chia cách. Cách mà các nhu cầu gắn bó của một cá nhân về sự an toàn, bảo vệ, và tiếp xúc được thực hiện, bị hạn chế, hoặc bị từ chối có thể gây ra nhiều vấn đề (theo Johnson, Maddeaux, và Blouin, 1998). Những cá nhân có kiểu hình gắn bó an toàn sẽ có xu hướng trông cậy vào những người mà họ gắn bó đặc biệt để tìm được sự an tâm và thể hiện được sự tự lập và tự tin. Trái lại, những ai có kiểu hình gắn bó bất an sẽ cường hóa các biểu cảm nóng giận và lo âu, đồng thời nằng nặc đòi người khác phải trấn an hoặc yêu cầu người khác tránh xa mình và hạn chế việc bộc lộ sự lo âu, đặc biệt là trong các tình huống khi họ cần được giúp đỡ nhất (theo Johnson cà các cộng sự, 1998).

Mục tiêu của EFFT là tái xử lý các trải nghiệm và tái tổ chức các tương tác để tạo ra các mối gắn kết an toàn giúp các thành viên gia đình tăng cường khả năng điều tiết cảm xúc, giải quyết vấn đề, và giao tiếp (theo Johnson, 1996; Johnson và Lee, 2000). Nói theo cách khác, EFFT sẽ giúp cho việc thiết lập lại sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình dễ dàng hơn bằng cách khuyến khích các trải nghiệm cảm xúc và tương tác mới.

Các nhà trị liệu sẽ tạo ra sự thay đổi bằng cách: (1) Nuôi dưỡng một liên minh trị liệu an toàn để thúc đẩy sự tham gia (của thân chủ) vào tiến trình thay đổi, (2) Tiếp cận và mở rộng các phản hồi cảm xúc trong một bối cảnh gắn bó và (3) Tái cơ cấu các tương tác mang tính then chốt (theo Johnson, 2004). Các phương thức can thiệp cụ thể (ví dụ như xác thực, tô đậm trải nghiệm, và tái định khung) giúp các nhà trị liệu làm tròn các nhiệm vụ trên đã được đề cập trong bài báo của Johnson (2004).

Quá trình thay đổi sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn thay đổi đầu tiên bao gồm việc làm giảm chu kỳ của chu trình tương tác tiêu cực (theo Johnson, 2004). Mô hình tương tác đeo đuổi-trốn tránh là một mô hình tương tác phổ biến trong EFT. Trong mô hình này, người chạy theo thường sẽ đổ lỗi hoặc công kích người trốn tránh. Người trốn tránh thường ở thế bị động hơn và né tránh người theo đuổi. Leo thang sẽ giảm đi khi người trốn tránh bắt đầu tương tác nhiều hơn còn người đeo đuổi thì bớt phản ứng thái quá hơn.

Giai đoạn thay đổi thứ hai xoay quanh sự tương tác của người trốn tránh (theo Johnson, 2004). Giai đoạn này sẽ diễn ra khi người trốn tránh bắt đầu chấp nhận nhiều rủi ro hơn để bộc lộ các nhu cầu và ý muốn của họ. Họ sẽ tương tác cảm xúc nhiều hơn với người còn lại. Một khi người trốn tránh tương tác nhiều hơn trong mối quan hệ, người đeo đuổi sẽ trở nên mềm mỏng, đồng thời sẵn sàng chịu tổn thương hơn và đưa ra nhiều mạo hiểm về cảm xúc hơn (theo Greenberg và Johnson, 1988). Và sau cùng, người trốn tránh sẽ có khả năng động viên và trấn an người đeo đuổi và ngược lại. Theo đó, nhu cầu gắn bó của mỗi bên sẽ được thoả mãn, dẫn đến các tương tác gắn bó, giao tiếp tốt hơn và giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. (theo Johnson, 2004).

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA EFT/EFFT

EFT/EFFT bao gồm 9 bước được chia ra làm ba giai đoạn (theo Johnson, 1996). Với mục đích đơn giản hóa, chúng tôi sẽ chỉ tóm tắt ba giai đoạn còn mô tả về 9 bước vốn đã được viết trong rất nhiều nguồn (ví dụ, theo Johnson, 1996; Johnson và Denton, 2002). Tuy các giai đoạn này thường được mô tả theo hướng của các cặp đôi, hoặc các bậc cha mẹ và con cái lớn tuổi, chúng tôi đã có sự điều chỉnh nhỏ trong mô tả để phù hợp với trẻ nhỏ hơn.

Giai đoạn một: Xuống thang chu trình tương tác tiêu cực

Sau quá trình đánh giá và tạo nên mối liên minh trị liệu, giai đoạn đầu tiên chủ yếu tập trung vào việc làm xuống thang/giảm chu trình tương tác tiêu cực giữa cha mẹ và con cái. Trong giai đoạn này, các nhà trị liệu sẽ sử dụng các lăng kính điều tiết cảm xúc và sự gắn bó để theo dõi vòng lặp đã gây ra vấn đề cũng như để tìm hiểu các nhu cầu gắn bó và cảm xúc tiềm ẩn của cha mẹ và con cái. Họ sẽ chú ý đặc biệt đến phương hướng mà cha mẹ và con cái đeo đuổi và trốn tránh lẫn nhau. Sau đó, các vấn đề sẽ được tái định khung dựa theo vòng lặp trên, để có thể nhìn nhận nó mới chính là kẻ thù cho mối quan hệ (theo Johnson và Denton, 2002). Ta lấy một ví dụ, khi một cậu bé Billy sáu tuổi không hoàn thành được một công việc được giao, bé sẽ trở nên bực dọc và đòi mẹ mình phải làm thay. Khi mẹ từ chối, Billy có hành vi đánh mẹ, khiến cho mẹ rời khỏi phòng và nói với bé rằng mẹ chỉ nói chuyện khi bé bình tĩnh lại. Billy chạy theo mẹ rồi đánh mẹ nhiều hơn nữa. Nhà trị liệu cho rằng người mẹ thực sự quan tâm đến Billy và mong con mình tự thành thục được công việc, thay vì làm thay cho con. Nhà trị liệu cũng sẽ tái định khung hành vi của Billy là nỗi sợ vắng bóng mẹ thay vì là sự phản kháng và tức giận. Sau đó, nhà trị liệu đã chỉ ra rằng sự nóng giận và bực tức sẽ làm leo thang các tương tác giữa mẹ và Billy và tự hỏi rằng liệu gia đình có thể đối mặt với các vấn đề trên theo một cách khác hay không.

Giai đoạn hai: Tái định hình các tương tác

Trong giai đoạn thứ hai của quá trình trị liệu, nhà trị liệu sẽ đào sâu hơn vào các nhu cầu gắn bó và hỗ trợ từng thành viên trong gia đình diễn đạt rõ ràng, thừa nhận các nhu cầu đó cùng cảm xúc ứng tương ứng. Đối với trẻ nhỏ, nhà trị liệu cần phải trở thành tiếng nói cho trẻ, và giúp các bậc cha mẹ thấu hiểu các nhu cầu gắn bó và hành vi của trẻ. Sau đó, nhà trị liệu sẽ hỗ trợ cha mẹ trong việc xử lý và chấp nhận trải nghiệm của chính họ và con của họ. Tiếp theo đó, nhà trị liệu sẽ làm việc với những cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu né tránh để tích cực giúp họ tương tác trong mối quan hệ, đồng thời giải toả căng thẳng cho các cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu theo đuổi bằng cách nhấn mạnh những điều dễ bị tổn thương và nhu cầu gắn bó của họ. Một khi các thành viên đã được hỗ trợ để có thể đối mặt với người còn lại dưới một góc nhìn mới, các hoạt động gắn kết sẽ có thể diễn ra để hàn gắn hoặc tạo nên một mối gắn bó an toàn. Theo đó, con cái sẽ cảm nhận được sự thay đổi bên trong mô hình tâm trí bên trong về chính mình và cả cha mẹ. Các bé sẽ nhận định được rằng bản thân mình gây được thiện cảm với người khác và xứng đáng được trấn an, và thấy được rằng cha mẹ là nơi an toàn cung cấp được sự trấn an đó. Trong ví dụ của Billy và mẹ của bé, nhà trị liệu sẽ giúp cho người mẹ thấy được nỗi sợ (về sự thất bại và sau cùng là mất mẹ) đằng sau sự nóng giận, bực bội của Billy và khuyến khích người mẹ ở cùng với Billy thay vì né tránh và phủ nhận sự bực tức và nỗi sợ của mình. Billy được khuyến khích bộc lộ sự bực tức, thứ mà nhà trị liệu diễn giải là nỗi sợ hãi, qua hình thức vui chơi. Sau đó, mẹ và Billy sẽ học được cách điều tiết cảm xúc khác mà không khiến mọi thứ leo thang thành vòng lặp giữa theo đuổi và né tránh. Bằng những cách thức trên, mẹ của Billy sẽ ôm bé để an ủi và động viên khi bé bực tức, ở bên cạnh và giúp bé hoàn thành công việc mà không làm thay cho bé. Hướng đi này sẽ giúp Billy cảm thấy an toàn và bớt bực tức, giúp cho em hoàn thành được việc em làm. Đồng thời, mẹ của bé sẽ đỡ tức giận hơn và ít cảm giác né tránh hơn trước kia.

Giai đoạn ba: Củng cố và Thống hợp

Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ đánh giá và giúp gia đình tạo ra một chu trình tương tác mới. Nhà trị liệu và gia đình sẽ cùng làm việc với nhau để bàn luận về những thay đổi trong tương tác của họ (theo Johnson và Denton, 2002). Các bậc cha mẹ cũng sẽ được hướng dẫn cách giải quyết các vấn đề cụ thể và những tình huống thực tế bằng việc áp dụng mô hình tương tác mới. Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ tìm hiểu các phương pháp mà Billy và mẹ của bé đã áp dụng ở nhà khi Billy nổi nóng với việc bé đang làm và cách giúp mẹ con tránh được việc lại sa vào vòng lẩn quẩn đeo đuổi-trốn tránh vốn đang leo thang dẫn đến việc Billy đánh mẹ. Người mẹ đã báo cáo rằng giờ đây mỗi lần Billy nổi nóng, mẹ sẽ ở bên cạnh và bày tỏ cảm xúc với Billy. Rồi cô sẽ hỏi bé mình có thể làm gì để giúp bé hoàn thành việc bé đang làm. Từ đó, mẹ và bé cùng nhau xây dựng nên một phương pháp vui chơi mà ở đó Billy là người dẫn đầu, còn mẹ là người hỗ trợ, cho đế khi cả hai tìm được giải pháp. Hai mẹ con đều có được cảm giác làm chủ mà trong đó Billy là người làm chủ quá trình làm việc gì đó, còn mẹ đóng vai trợ giúp cho bé.

KẾT HỢP EFFT VÀ CÁC KỸ THUẬT CỦA TRỊ LIỆU VUI CHƠI

Mặc dù chúng tôi tin rằng EFFT cung cấp cho ta nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện nhu cầu gắn bó về sự hỗ trợ và an tâm, chúng tôi cũng đã nhận ra rằng áp dụng hình thức trị liệu trò chuyện có thể gặp khó khăn khi làm việc với trẻ nhỏ. Vì vậy, chúng tôi đã kết hợp một số kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi với EFFT để áp dụng EFFT cho các gia đình có con nhỏ. Bài viết của Johnson (2004) sẽ đề cập rõ hơn về tổng quan của các phương pháp EFT.

Đánh giá và Theo dõi chu trình tương tác

Theo dõi chu trình tương tác của mỗi gia đình là một trong những điểm quan trọng của EFFT. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với các gia đình có con nhỏ, việc theo dõi chu trình tương tác và hiểu được vị thế của mỗi thành viên có thể gặp khó khăn một phần là bởi họ đang làm việc với hai thế giới khác nhau, thế giới của người lớn và thế giới của trẻ con. Nhà trị liệu chính là cầu nối giữa hai thế giới đó. Để thương lượng với hai thế giới đó, ta có thể áp dụng một số chiến lược khác nhau.

Đầu tiên, nhà trị liệu có thể gặp gỡ các cha mẹ để xác định những mâu thuẫn, vấn đề đang gặp phải và bắt đầu quá trình theo dõi chu trình tương tác của gia đình họ dựa trên lời kể của cha mẹ. Nhà trị liệu sẽ tập trung cách mà các thành viên trong gia đình tương tác với nhau trước những mâu thuẫn. Nhà trị liệu cũng sẽ xác nhận tâm thế của từng thành viên trong gia đình. Điều này rất giống với cách mà con người đánh giá về chu trình tương tác giữa một trẻ vị thành niên và gia đình của em, ngoại trừ trường hợp đứa trẻ không tích cực tương tác.

Một khi nhà trị liệu đã hiểu rõ chu trình tương tác và tâm thế của các cha mẹ, họ có thể bắt đầu xác nhận và thấu hiểu được góc nhìn của đứa trẻ. Quá trình này có thể đạt được thông qua vui chơi tự do và vui chơi theo chỉ dẫn. Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái là một phương pháp dựa trên bằng chứng cho thấy việc sử dụng hình thức vui chơi tự do thật sự mang lại hiệu quả cao (theo Guerney và Guerney, 1989). Trị liệu trên hỗ trợ trẻ em vui chơi tự do không theo chỉ dẫn trong khi nhà trị liệu phản ánh lại các trải nghiệm của các em với chính các em. Quá trình này giúp nhà trị liệu bắt đầu việc tham gia cùng đứa trẻ và kiểm tra trải nghiệm của các em. Trong suốt quá trình vui chơi tự do, nhà trị liệu sẽ tìm kiếm những chủ đề nổi bật để có cái nhìn thấu suốt vào góc nhìn của đứa trẻ trong chu trình tương tác, và để xác định được kiểu hình và nhu cầu gắn bó của các em.

Ta lấy một ví dụ, Ann, một bé gái tám tuổi, được cha mẹ đưa đi trị liệu do bé không muốn đi học. Trong một phiên làm việc với cha mẹ, nhà trị liệu nhận ra rằng người bố rất mất kiên nhẫn với Ann vào sáng sớm khi bé không chịu chuẩn bị để có thể đến trường đúng giờ. Người bố càng thúc giục, Ann càng không vâng lời và cuối cùng trốn vào phòng tắm khóc. Nỗ lực nói chuyện với Ann của người mẹ đã khiến em bị lỡ mất chuyến xe buýt đến trường. Điền này đã làm người bố tức đến mức giận dữ lao ra cửa và quát cả mẹ lẫn Ann. Đến lúc này, Ann buồn đến mức không còn chịu đi học. Còn người mẹ thì cảm thấy có lỗi nên đã phải ở nhà với em. Trong một phiên Trị liệu vui chơi tự do, Ann đã sử dụng những con rối để diễn lại tình huống sau: một con chó con (giả làm Ann) tỏ ý không chịu vui chơi, vì nó sợ rằng bố nó sẽ bỏ đi và không bao giờ muốn quay lại nữa. Mẹ cũng có cùng nỗi sợ như vậy. Cho nên nó ra sức an ủi mẹ và bảo với mẹ rằng nó sẽ không bao giờ lớn lên để rồi bỏ đi như thế mà sẽ ở với mẹ đến hết phần đời còn lại (tức là Ann sẽ không chịu đến trường nữa).

Vui chơi theo chỉ dẫn như chơi ngôi nhà búp bê cũng có thể mang lại hiệu quả trong việc thấu hiểu chu trình tương tác bằng cách chơi với búp bê. Sau đó, nhà trị liệu có thể tận dụng cơ hội này để làm rõ vị trí của con búp bê, giúp họ nhận định gián tiếp góc nhìn của các em. Bằng việc quan sát chu trình tương tác được thể hiện thông qua quá trình vui chơi của trẻ, nhà trị liệu có thể hiểu được tâm thế của các em và cách mà các em nhìn nhận các tương tác với cha mẹ mình.

Ngoài vui chơi tự do và theo chỉ dẫn, ta cũng cần phải quan sát hành vi của trẻ trong suốt quá trình xa cách và sum họp với mỗi bậc cha mẹ. Việc quan sát cách phản ứng của trẻ khi cha mẹ rời đi để ngồi trong phòng chờ và khi trẻ quay về với họ có thể cung cấp các thông tin đáng giá về kiểu hình gắn bó của trẻ (an toàn, né tránh, mâu thuẫn, vô tổ chức). Thêm vào đó, ta có thể bắt đầu hiểu được rằng một đứa trẻ sẽ có mô hình tâm trí như thế nào. Ví dụ, khi nói đến mô hình tâm trí, ta cần biết được rằng liệu đứa trẻ đó có xem cha mẹ mình là nơi trẻ tin là có thể đáp ứng được nhu cầu của trẻ và mang đến sự an toàn hay liệu trẻ xem cha mẹ mình là những người thờ ơ về mặt cảm xúc. Trong trường hợp của bé Ann, bé rõ ràng không tin rằng bố mình sẵn lòng dù là về vật chất hay cảm xúc. Mô hình nội tâm của Ann không thể hiện được kiểu hình gắn bó an toàn.

Phương pháp cuối cùng được áp dụng để đánh giá chu trình tương tác được gọi là hình thức vui chơi gia đình có cấu trúc và phi cấu trúc. Nhà trị liệu có thể yêu cầu các gia đình cùng vui chơi trong quá trình họ quan sát những tương tác của các gia đình đó. Nhà trị liệu sẽ quan sát các tương tác giữa các thành viên khác nhau trong gia đình để hỗ trợ đánh giá tâm thế gắn bó của mỗi người (đeo đuổi hay trốn tránh). Các nhà trị liệu cần phải ghi nhớ các câu hỏi sau đây: Cha hay mẹ sẽ vui chơi cùng con hay cả hai? Những đứa trẻ chơi cùng ai trước hay các em tự tách rời ra để chơi một mình? Nếu bọn trẻ có anh chị em, giữa những đứa trẻ và anh chị em của chúng có những tương tác nào? Nếu nhà trị liệu may mắn, gia đình có thể bộc lộ được chu trình tương tác của họ trong ngay khoảng thời gian này. Trong một phiên Trị liệu vui chơi có cấu trúc với gia đình Ann, nhà trị liệu đã hỏi ba thành viên trong gia đình để dựng lên một vở kịch rối có đoạn mở đầu, nội dung chính, và kết thúc. Người mẹ chọn một con mèo, còn người bố thì chọn một con khỉ đột có sắc mặt ủ dột. Theo diễn tiến của câu chuyện, con khỉ đột đã ra sức kiểm soát tình huống bằng cách bảo mèo và chó làm như thế này thế kia. Con chó bỏ chạy, trong khi con mèo thì lại không biết phải thế nào. Khi con khỉ đột quát con mèo thì con chó quay lại để an ủi con mèo vốn đang buồn bã. Sau khi câu chuyện kết thúc, nhà trị liệu phân tích vở kịch bằng việc hỏi các thành viên gia đình với các câu hỏi như: Khi con chó chạy đi thì con mèo và khỉ đột cảm thấy như thế nào? Khi con khỉ đột đánh con mèo thì con chó cảm thấy như thế nào? Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu bạn là con khỉ đột? Đã từng có điều gì tương tự xảy đến với bạn chưa? Và bạn cảm thấy thế nào nếu điều đó xảy ra? Thông qua quá trình này, nhà trị liệu có thể xây dựng các ý tưởng khả thi về những cảm xúc tiềm ẩn của các thành viên trong gia đình.

Tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn

Tiếp cận được những cảm xúc tiềm ẩn là cũng một bước quan trọng trong EEFT. Các thành viên gia đình cần phải học được cách xác định và biểu lộ được những cảm xúc tổn thương mà họ đang cảm nhận được, thường có xu hướng bị che giấu bằng những cảm xúc ít bị tổn thương và ít công khai hơn. Chẳng hạn như, một người bố có thể tỏ vẻ giận dữ với con gái mình khi cô bé về nhà quá giờ giới nghiêm. Tuy nhiên, ẩn sau cơn giận đó, người bố có thể lo sợ về các nguy hiểm tiềm ẩn mà con gái mình có thể gặp phải. Trong ví dụ trên, bé gái có thể sẽ chỉ nhìn thấy cơn giận của bố mình, thay vì nỗi sợ mà người bố đang cảm nhận.

Sau khi đã nhận diện được những cảm xúc tiềm ẩn, ta có thể tận dụng chúng cùng với các nhu cầu gắn bó để mô tả chu trình tương tác mà qua đó cả gia đình tiếp xúc với nhau, điều đã được bàn luận trong phần trước. Trong khi đối với trẻ lớn hơn, những cảm xúc tiềm ẩn được tiếp cận thông qua trò chuyện, thì việc tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn bằng trị liệu trò chuyện với trẻ nhỏ sẽ khó khăn hơn. Một số phương pháp được áp dụng để đánh giá các cảm xúc trên ở trẻ nhỏ hơn sẽ được bàn luận ở phần dưới đây.

Phương pháp “tô màu cuộc sống” có thể được áp dụng để nhận diện các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Theo phương pháp này, các nhà trị liệu sẽ yêu cầu các em ghép một màu sắc với một cảm xúc tương ứng (ví dụ như hạnh phúc là màu vàng, giận dữ là màu đỏ, buồn bã là màu xanh, sợ hãi là màu tím). Sau khi trẻ đã đưa ra các cặp ghép đôi màu sắc/cảm xúc có thể thực hành được, thường là tám cặp, các em có thể sử sụng bút màu và giấy để vẽ. Nhà trị liệu sẽ cần phải chỉ dẫn cho các em sử sụng những màu sắc này để thể hiện các cảm xúc của mình. Các nhà trị liệu có thể nói những điều như, “Nếu cháu cảm thấy hạnh phúc trong khoảng một nữa quãng đời của mình thì cháu hãy tô vàng một nửa tờ giấy” (theo Gil, 1994).

Thêm vào đó, một trong những tác giả đã thiết kế ra một dạng trò chơi để nhận diện được các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ, được gọi là trò chơi nóng-ấm-lạnh. Trò chơi này đã phát huy được hiệu quả đặc biệt lớn đối với Joey, một cậu bé 7 tuổi, khi em tỏ ra miễn cưỡng khi tham gia trị liệu cùng mẹ, khá né tránh bộc lộ cảm xúc, và gặp khó khăn khi tham gia vào cả Trị liệu vui chơi hay trị liệu trò chuyện. Trong trò chơi này, Joey có thể giữ im lặng còn nhà trị liệu và mẹ của em sẽ đoán xem những gì em có thể đang phải trải qua. Sau đó, Joey sẽ sự dụng phấn màu vẽ lên bảng để cho nhà trị liệu và mẹ em biết được rằng liệu họ có hiểu được cảm giác của em hay không (lạnh là không chính xác, còn nóng là rất chính xác). Trong tình huống này, Joey đã có thể bày tỏ rằng em đang trải qua cảm giác mẹ né tránh mình. Người mẹ sau đó đã bắt đầu hiểu được góc nhìn của Joey.

Hỗ trợ các thành viên gia đình chấp nhận góc nhìn của nhau

Trong quá trình làm việc với cha mẹ và trẻ nhỏ, điều quan trọng là cần phải dùng giai đoạn này trong EFFT để hỗ trợ cho các bậc cha mẹ lắng nghe cũng như hiểu được nhu cầu của con em họ để có được sự an tâm và gắn kết. Một lần nữa, trẻ em thường có xu hướng né tránh bộc lộ nhu cầu tình cảm và gắn bó qua lời nói. Do đó, ta cần phải hỗ trợ cho các bậc cha mẹ hiểu được góc nhìn của con em mình, nhưng phải làm theo cách mà họ không cảm thấy bị đỗ lỗi. Thông qua việc giúp cha mẹ hiểu được góc nhìn của con cái, họ sẽ bắt đầu nhận ra được cách mà các tương tác của họ ảnh hưởng đến con mình như thế nào. Từ đó cha mẹ có thể công nhận những trải nghiệm của con cái và bắt đầu nhìn nhận con cái bằng một góc nhìn khác.

Trong trường hợp của Ann, nhà trị liệu sẽ yêu cầu các thành viên trong gia đình diễn lại vở kịch rối lần lượt với các vai diễn khác nhau. Đầu tiên, người bố sẽ đóng vai chó, mẹ đóng vai mèo, còn Ann thì vào vai khỉ. Sau đó, người mẹ sẽ đóng vai cún, bố đóng vai khỉ đột, còn bé Ann đóng vai mèo. Và cuối cùng, mẹ và bố sẽ đổi vai cho nhau (mẹ vào vai khỉ đột, còn bố vào vai mèo), trong khi Ann vẫn sẽ là chó. Sự thay đổi trong vai diễn giúp cho bố và mẹ đứng ở góc nhìn của Ann để cảm nhận được các phản ứng của em trước các cư xử của bố mẹ, và cũng giúp cho Ann hiểu được góc nhìn của bố mẹ mình.

Vấn Đề Cũ, Giải Pháp Mới

Một khi chúng ta đã làm giảm sự leo thang của vòng lặp tương tác tiêu cực và khi các thành viên gia đình hiểu rõ và chấp nhận góc nhìn của nhau, việc giải quyết vấn đề và thỏa hiệp sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thông qua việc vui chơi và trị liệu, đứa trẻ sẽ truyền đạt được nhu cầu và cảm xúc của bản thân trong khi cha mẹ sẽ hiểu rõ hơn các nhu cầu và mong muốn của con mình. Chính vì vậy, thông qua thảo luận, cha mẹ có thể bắt đầu giải quyết vấn đề và thỏa hiệp với con cái theo các phương hướng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đó hơn. Ngoài ra, cha mẹ cũng có trao đổi với con cái những cách con cái có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của mình, chẳng hạn như bộc lộ sự nóng giận hay buồn bã theo các cách phù hợp hơn.

Ann và bố mẹ của em sẽ thương lượng với nhau về các giải pháp mới thông qua vở kịch rối. Khỉ đột sẽ chấp nhận thông cảm hơn với chó và mèo. Khi chó chạy đi, khỉ đột sẽ không la mắng mèo, mà sẽ cùng mèo lo lắng cho chó và cùng nhau đi tìm chó. Để rồi khi tìm thấy chó, chó sẽ vui mừng và ôm chặt lấy mèo và khỉ đột. Cả gia đình củng nhau đi về nhà, trong khi khỉ đột cõng chó con trên lưng mình. Trong quá trình nhà trị liệu phân tích vở kịch với gia đình, người bố cho biết ông đã từng cõng Ann trên lưng do em mệt mỏi vì đi bộ đường dài khi em còn nhỏ. Gia đình sẽ đưa “giải pháp mới” này từ trò chơi kịch rối vào “đời thực” của họ bằng cách thay đổi thói quen mỗi buổi sáng của họ. Bố Ann sẽ dậy sớm hơn một chút và bĩnh tĩnh giúp Ann chuẩn bị đến trường. Tiếp đó, cả gia đình sẽ dành chút thời gian ăn sáng cùng. Khi đã đến giờ đi học, bố sẽ vào vai chú khỉ đột “thân thiện” và cõng “chó con” trên vai mình đến cửa. Sau đó, bố sẽ thả Ann xuống, thơm em, và dẫn em đến xe buýt để đến trường (điều mà bố mẹ từ trước giờ chưa làm vì họ cho là Ann đã “lớn rồi”). Bằng cách này, Ann sẽ cảm thấy an toàn hơn khi di chuyển từ nhà đến trường và nỗi sợ đến trường của bé rồi cũng sẽ nhanh chóng vơi đi.

KẾT LUẬN

Bài báo này đã được viết ra với mục đích phản hồi về tình trạng thiếu hụt nghiên cứu về áp dụng mô hình EFFT cho các gia đình có con nhỏ. EFFT cung cấp cho ta một nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ về nhu cầu gắn bó về sự an ủi và hỗ trợ. Bằng cách kết hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi với khung lý thuyết của EFFT, các nhà trị liệu có thể giúp cho bậc cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Các phương thức được bàn luận ở đây chỉ đơn thuần là những gợi ý và chúng tôi khuyến khích những người khác kết hợp thêm các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi vào quá trình EFFT của họ để áp dụng cho các trẻ nhỏ và gia đình.

(Quang Thái và Kim Hà dịch; ThS tâm lý Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Axline, V. (1969). Trị liệu giải trí (tái bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Ballatine.

Chethik, M. (1969). Các phương pháp trị liệu cho trẻ em: Các chiến lược tâm lý động lực. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Erikson, E. H. (1963). Tuổi thơ và xã hội. Thành phố New York: Nhà xuất bản W. W. Norton.

Gil, E. (1994). Vui chơi trong trị liệu gia đình. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.

Greenberg, L. S., & Johnson, S. M. (1988). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Guerney, L., & Guerney, B. (1989). Cải thiện quan hệ với con cái: Trị liệu gia đình và giáo dục cho cha mẹ. Báo Đánh giá cá nhân, tập 4, trang 344-357.

Johnson, S. M. (2004). Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên sự gắn kết (tái bản lần 2). Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner-Routledge.

Johnson, S. M. (1996). Tạo dựng sự gắn kết: Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc trong hôn nhân. Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner/Mazel.

Johnson, S. M., & Lee, A. C. (2000). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc: Tái định hình sự gắn bó. Tại C. E. Bailey, Sách Trẻ em trong trị liệu (trang 112-133). Thành phố New York: Nhà xuất bản Norton.

Johnson, S. M., & Denton, W. (2002). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên các mối gắn kết an toàn. Tại A. S. Gurman, Sách Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi (trang 221-250). Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.

Johnson, S. M., Maddeaux, D., & Blouin, J. (1998). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc đối với chứng cuồng ăn: Thay đổi các phương thức gắn bó. Báo Trị liệu tâm lý, tập 35, trang 238-247.

Nickerson, E. T. (1973). Các xu hướng và cải tiến mới trong trị liệu giải trí. Báo Tạo chí quốc tế về trị liệu tâm lý cho trẻ em, tập 2, trang 53-70.

Piaget, J. (1969). Cơ chế của sự nhận thức. Thành phố New York: Nhà xuất bản Basic Books.

Schaefer, C. E., & O’Connor, K. J. (1983). Sổ tay trị liệu giải trí. Thành phố New York: Nhà xuất bản Wiley.

White, R. W. (1966). Đời sống biến chuyển (2 bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Holt, Rinehart & Winston.

================

Tạp chí Mỹ về Trị liệu Gia đình, tập 34:trang 333-342, năm 2006

Bản quyền © Taylor & Francis Group, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn

Số ISSN (bản in): 0192-6187 / 1521-0383 (bản online)

Số DOI: 10.1080/01926180600553472

Nhà xuất bản Routledge, công ty Taylor & Francis Group