-
Tác giả: Jane Simms
Nội dung: Mục tiêu của bài báo sau đây là bàn luận về vai trò của việc định hình ca trong thực hành tham vấn tâm lý cho những người hành nghề theo đuổi việc đưa phương pháp nhân vị trọng tâm vào thực tiễn lâm sàng.
Trọng tâm: Khả năng định hình các vấn đề được thân chủ trình bày dựa trên một mô hình lý thuyết nhất định được xem là năng lực lâm sàng tiêu chuẩn ở các chuyên gia. Dù vậy, chúng ta nhận thấy rằng yếu tố trên lại không phải là chủ đề thường xuất hiện trong chương trình đào tạo, đồng thời các nghiên cứu thuộc lĩnh vực có liên quan đến công dụng của nó cũng rất ít ỏi. Lượng nghiên cứu còn hạn chế trong lĩnh vực trên nhấn mạnh rằng việc nắm bắt được các vấn đề khó khăn của thân chủ sẽ có ích cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu. Bài viết sau đây sẽ phác thảo cách tích hợp các tư liệu từ thân chủ vào mô hình lý thuyết nhân vị trọng tâm.
Kết luận: quá trình định hình ca có thể được áp dụng thoải mái vào thực hành lâm sàng thường xuyên miễn là các nhà tham vấn tâm lý phải đảm bảo được rằng nó là sự nỗ lực mang tính hợp tác tạo điều kiện cho tính tự chủ và sự lựa chọn của thân chủ, tôn trọng thân chủ như là người duy nhất viết nên câu chuyện của đời mình, và tránh việc áp đặt hoặc diễn giải chủ quan trong cách tiếp cận của mình.
Từ khóa: tham vấn tâm lý; định hình ca; nhân vị trọng tâm; năng lực.
Các nhà tham vấn tâm lý tham gia thực hành lâm sàng cần phải có khả năng định hình được các vấn đề mà thân chủ của họ trình bày trong khuôn khổ mô hình trị liệu mà họ đã chọn. Đây là một kỹ năng được nhấn mạnh trong quyển Cẩm nang hướng dẫn về các năng lực cốt lõi trong Tâm lý học tham vấn dành cho các chương trình đào tạo Tâm lý học tham vấn (Core Competencies Counselling Psychology Guidance for Counselling Psychology Programmes), được viết bởi Hội Tâm Lý Học Anh (British Psychological Society) (2010) mà trong đó đã chỉ ra rằng những người hành nghề cần phải có khả năng đánh giá được tâm lý và phải tổng hợp được nhiều kiểu ca tham vấn khác nhau, đặc biệt là phải ‘định hình’ được các vấn đề của thân chủ trong khuôn khổ của một hay nhiều mô hình trị liệu được chọn (trang 15). Kỹ năng trên cũng đã được tóm tắt trong quyển Tiêu chuẩn năng lực hành nghề của các nhà tâm lý học lâm sàng (Standards of Proficiency – Practitioner Psychologists) của hội Hội Đồng Nghề Nghiệp Sức Khoẻ (HPC, 2009). Do đó, khả năng định hình được các vấn đề của thân chủ dù cho người thực hành có sử dụng đến mô hình lý thuyết nào đi chăng nữa, được xem như là một yêu cầu chuyên môn, một tiêu chuẩn đặc thù của năng lực lâm sàng và được coi là nền tảng cho thực hành lâm sàng thường xuyên (Eells, Kendjelic & Lucas, 1998).
Định hình ca, dẫu đã được khẳng định tầm quan trọng, thường là một ‘kỹ năng lâm sàng ít được đưa vào giảng dạy và đào tạo’ (Sim, Gwee & Bateman, 2005, tr.290). Điều này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm bắt được vai trò của kỹ năng định hình ca ở cả cấp độ khái quát và cụ thể. Mặc dù trước đây lĩnh vực này ít được chú ý đến, nhưng trong những năm gần đây, giới tâm lý học, tâm lý trị liệu, tham vấn và tâm thần học đã ngày càng lưu tâm hơn, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo (Johnstone & Dallos, 2006). Do đó, đây có lẽ là thời điểm thích hợp để giới tâm lý học tham vấn, nhất là những người đang thực hành theo khung làm việc thân chủ trọng tâm, xem xét lại vai trò của việc định hình ca, khái niệm từng bị chính trường phái tiếp cận này bác bỏ. (Rogers, 1951).
Thế nào là một định hình ca tâm lý?
Trước khi đi vào việc bàn luận về vai trò của quá trình làm việc với các ca bệnh, trước hết ta cần phải biết định nghĩa của nó. Sim và cộng sự (2005, tr.290) đã đưa ra một định nghĩa như sau:
‘Định hình ca sẽ tóm tắt lại các đặc điểm nổi bật của ca đó một cách cô đọng và nhanh chóng xác định ra các vấn đề quan trọng, đặc biệt là các ca phức tạp có nhiều vấn đề… giúp hỗ trợ việc tổ chức và tích hợp các dữ liệu lâm sàng xoay quanh một nhân tố cốt lõi và tạo điều kiện cho nhà lâm sàng tập trung vào trọng tâm của vấn đề trong từng ca cụ thể.’
Như vậy, đây là một phương pháp mà cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể tận dụng để thấu suốt được những quá trình dẫn đến những khó khăn cụ thể của thân chủ, về cách mà chúng bắt đầu, các yếu tố khiến vấn đề tồn đọng, và liệu là các yếu tố đó xuất phát từ bên trong hay bên ngoài đối với thân chủ, hoặc cả hai, chẳng hạn như lối suy nghĩ, biến cố trong đời, các phản ứng cảm xúc và hành vi. Thông thường thì nó là một giả thuyết tạm thời mang tính lý giải dựa trên một học thuyết nền tảng, ngoài việc giúp ta hiểu được các trở ngại của thân chủ, thì giả thuyết này còn tác động cả phương hướng, chi phối cả tiến trình lẫn kết quả trị liệu (Bennett, 2003). Do đó, nó có thể được xem là một tấm bản thảo hoặc bản đồ hướng dẫn cho việc trị liệu, đồng thời trở thành một chỉ dấu cho sự thay đổi (Eells, 2007).
Dù việc định hình ca có rất nhiều định nghĩa, đa số chúng đều bao gồm các khía cạnh mang tính mô tả, chỉ định, và phỏng đoán về các vấn đề hiện diện ở thân chủ (Sim, Gwee & Bateman, 2005). Tuy nhiên, chúng cũng sẽ có các chức năng khác như tạo điều kiện cho sự thấu hiểu từ nhà trị liệu, hỗ trợ giám sát nội bộ, phát hiện các vết rạn nứt trong quan hệ trị liệu và cải thiện việc giao tiếp với thân chủ (Butler, 1998; Eells, 2007). Như vậy, khía cạnh ‘quá trình và chức năng’ được nêu trên (Blackburn, James & Flitcroft, 2006) đã nhấn mạnh rằng việc thực hiện định hình ca trong khuôn khổ thực hành lâm sàng thường xuyên là một hoạt động tương quan có sự tham gia từ cả thân chủ và nhà trị liệu. Tức là, như Blackburn, James và Flitcroft (2006, tr.126) đã chỉ ra, thì đây chính là một ‘quá trình chung có tính phụ thuộc cao vào sự phản hồi’ từ thân chủ.
Sự đa dạng của phương pháp định hình ca
Với nhiều mô hình lý thuyết khác nhau, khả năng định hình hoặc nắm bắt được những khó khăn của thân chủ là một đặc điểm cơ bản của quá trình trị liệu. Chẳng hạn, trong Liệu pháp Nhận thức-Hành vi (CBT), khả năng trên được xem như một kỹ năng lâm sàng cốt lõi và một đặc điểm chủ chốt của liệu pháp. Quá trình định hình ca trong phương thức trị liệu trên sẽ bao gồm các vấn đề hiện tại mà thân chủ đang gặp phải và sự nỗ lực trong việc xâu chuỗi lại các lối suy nghĩ lệch lạc, hành vi gây trở ngại và mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như phản ứng cảm xúc từ thân chủ. Thêm vào đó, ta cũng sẽ xét đến các đặc điểm về mặt sinh học và môi trường có khả năng tạo ra khuynh hướng, gây tích tụ và tồn đọng các vấn đề của từng thân chủ. Mục tiêu ở đây chính là xâu chuỗi lại các trở ngại được biểu hiện và cách thức mà chúng tương quan với nhau trong một khuôn khổ liền mạch, giải thích được vì đâu mà các trở ngại đó xuất hiện và giúp cho cả hai phía nắm bắt được cách nhìn nhận những khó khăn của thân chủ và truyền đạt lại các ý nghĩa từ đó cho thân chủ (Johnstone & Dallos, 2006).
Liệu pháp tương tác liên nhân vị (IPT) cũng là một liệu pháp dựa trên việc định hình ca trong cách tiếp cận để có thể thấu hiểu được sự phiền muộn của thân chủ. Trong mô hình này, các triệu chứng, thường là trầm cảm, sẽ được hiểu trong ngữ cảnh tương tác giữa người với người. Việc định hình các ca liên cá nhân trên sẽ được tích hợp vào một mô hình sinh học tâm lý xã hội (Weissman, Markowitz & Klerman, 2000). Các cơ địa sinh học kết hợp với các trải nghiệm đầu đời và kiểu hình gắn bó có thể khiến cho một cá nhân dễ bị tổn thương dẫn đến việc dễ gặp phải khó khăn trong các mối quan hệ liên cá nhân trong những thời điểm khủng khoảng, đặc biệt khi sự hỗ trợ về mặt xã hội còn thiếu hoặc bị xem là không đủ. Trong liệu pháp IPT, tất cả các yếu tố trên sẽ được xâu chuỗi lại với nhau để định hình thành một cách hiểu về các vấn đề được biểu hiện ở thân chủ trong phạm vi trọng tâm cụ thể: xung đột về vai trò, nỗi đau khổ, sự nhạy cảm giữa các cá nhân và sự chuyển dịch trong vai trò (Stuart & Robertson, 2003).
Trong liệu pháp Tâm động, định hình ca được tận dụng như phương tiện để những nỗi khổ của thân chủ được thấu hiểu dựa trên các kiểu hành vi kém thích nghi không ngừng tái diễn (Leiper, 2006). Các vấn đề hiện diện ở thân chủ sẽ được xem như là sự hiện thân của các xung đột tiềm ẩn nhiều khả năng đã bén rễ từ thời thơ ấu. Cảm giác của nhà trị liệu sẽ được tận dụng để phát triển một công thức định hình các vấn đề của thân chủ (Sturmey, 2009).
Trong liệu pháp Hệ thống, vai trò của định hình ca là hỗ trợ việc ‘xác định những gì được xem là vấn đề và những cách mà chúng liên kết với những khó khăn mà gia đình thân chủ muốn vượt qua’ (Dallos & Stedmon, 2006, tr.73). Định hình ca trong khuôn khổ mang tính hệ thống sẽ bao gồm việc phân tích vấn đề, xác định các khuynh hướng làm tồn đọng vấn đề và vòng lặp phản hồi, các niềm tin và kỳ vọng, các chuyển dịch trong chu trình đời sống, cảm xúc và sự gắn bó, cũng như các biến số về bối cảnh (Dallos & Stedmon, 2006). Như vậy, trọng tâm nằm ở chỗ hiểu được các vấn đề tâm lý trong bối cảnh xã hội, chính trị và sự tương tác giữa con người (dù là gia đình hay đồng nghiệp), đồng thời xem xét đến việc nhận diện các vấn đề nảy sinh ở giai đoạn phát triển khác nhau.
Trong một mô hình tích hợp như Liệu pháp phân tích nhận thức (Ryle, 1995), ta sẽ đặt trọng tâm vào việc tái định hình các khó khăn của thân chủ thông qua việc xác định các khuynh hướng của vai trò và các quy trình như niềm tin, ý nghĩ, cảm giác và hành động trong ‘bối cảnh của góc nhìn đối thoại về quan hệ con người và ý thức cá nhân’ và điều này có thể được phác họa dưới dạng lưu đồ, thể hiện mối quan hệ giữa tất cả các thành phần khác nhau và được tóm gọn trong một lá thư gửi cho thân chủ (Eells, 2009, tr.303).
Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một mô hình nhân văn, đặc biệt trong phương pháp tiếp cận nhân vị trọng tâm, khái niệm của việc định hình ca và đề xuất công khai tích hợp nó vào tiến trình trị liệu đã nhiều lần bị bác bỏ (Johnstone và Dallos, 2006; Eells, 2007). Rogers (1951) đã cho rằng điều này sẽ tạo ra sự mất cân bằng quyền lực trong quan hệ trị liệu qua việc đặt nhà trị liệu vào vị thế của một chuyên gia và qua đó có khả năng gây nên sự lệ thuộc độc hại khi thân chủ nương theo cách hiểu của nhà trị liệu, từ đó dẫn đến sự trì trệ trong việc tạo ra được mối quan hệ trị liệu chân chính. Vì vậy, Rogers (1951) đã tranh luận rằng điều này có khả năng gây hại. Như Johnstone (2006, p.216) đã chỉ ra rằng:
‘Vấn đề cốt lõi ở đây chính là quyền lực, và cụ thể hơn, là quyền lực của một người, dưới vị thế của một chuyên gia, trong việc áp đặt quan điểm của mình lên người khác.’
Quả vậy, nghiên cứu trong lĩnh vực đã đưa ra các trường hợp khi định hình ca gây hại cho sức khỏe của thân chủ. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Chadwick, Williams và Mackenzie (2003) nhằm tìm hiểu về tác động của định hình ca lên trạng thái lo âu và trầm cảm, lời kể lại của những người tham gia đã cho thấy rằng một số người cảm thấy khó chịu, lo lắng, hay thậm chí là buồn. Dường như việc xâu chuỗi lại tất cả các thông tin về vấn đề của thân chủ có thể phô ra một bức tranh tổng thể choáng ngợp khiến họ cảm thấy chán nản. Nghiên cứu sâu hơn vào lĩnh vực đã cho thấy rằng việc trên có thể có một số tác động khác lên thân chủ như khiến họ không thể tin tưởng vào chính bản thân mình (Proctor, 2002), vì nó tiềm tàng khả năng bị chi phối bởi phán xét và phỏng đoán của nhà trị liệu (Masson, 1990). Do vậy, quan điểm của Roger (1951) cho rằng nó có thể tạo ra sự mất cân bằng quyền lực trong quan hệ trị liệu thực sự có giá trị nếu chúng ta xem xét những điều trên, dù nghiên cứu trong lĩnh vực này vẫn còn những hạn chế, điều này thể hiện rằng nó có thể gây hại cho thân chủ.
Tính hữu ích của phương pháp định hình ca
Đi sâu vào vấn đề hơn, Johnstone (2006) đã phác thảo những tranh cãi lẫn tranh luận khác nhau về định hình ca và đặt ra các câu hỏi như: Liệu nó hữu ích với ai? Liệu nó có gây hại không? Chúng ta có thực sự cần đến nó không? Liệu bất cứ ai cũng có thể thực hiện nó hay có phải tất cả mọi người đều đang thực hiện nó? Liệu nó có mang tính cá nhân hóa quá không? Vai trò của nó trong việc chẩn đoán nằm ở đâu? Tổng hợp các nghiên cứu trong lĩnh vực, Johnstone (2006) đã cho thấy rằng, ở một mặt khác, nó cũng có thể chẳng mang lại lợi ích gì cho các thân chủ được kể trên, đồng tình với Butler (1998), người cho rằng thân chủ dường như sẽ bị cân đo đong đếm, bị đánh giá hoặc phán xét – giống như bị ‘soi mói’ hay bị ‘vạch trần’ hơn là được ‘thấu hiểu.’ Hơn nữa, ta cũng không có nhiều bằng chứng cho thấy nó có sự ảnh hưởng đến kết quả điều trị của thân chủ. (Madill et al., 2001; Chad wick et al, 2003). Bản chất cá nhân hóa của nó cũng bị chỉ trích vì không có khả năng xem xét đến hoàn cảnh cá nhân, chính trị và xã hội (Johnstone, 2006).
Tuy nhiên, chúng ta cần phải có sự thận trọng vì theo như Johnstone (2006) đã chỉ ra rằng chúng ta không có nhiều bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho các tuyên bố trên và do đó, chúng ta phải cẩn trọng trong việc diễn giải các kết quả thu thập được từ các nghiên cứu hiện có. Dù vậy, định hình ca vẫn được xem là một kỹ năng lâm sàng cơ bản mà nhiều chuyên gia y tế được yêu cầu phải nắm bắt được trong quá trình đào tạo và thường xuyên áp dụng vào thực tiễn. Kỹ năng này cũng được đưa vào nhiều chương trình đào tạo chuyên môn, và như đã được nhắc đến ở phần mở đầu, nhiều bộ phận chuyên gia cũng đưa ra quy định rằng kỹ năng trên sẽ thể hiện được năng lực chuyên môn (Sturmey, 2009).
Với những quan điểm đối lập như trên thì liệu việc áp dụng định hình ca sẽ mang lại lợi ích gì trong thực hành lâm sàng thường xuyên? Từ góc nhìn của một nhà trị liệu, nó được xem là có lợi trong việc hỗ trợ nhà trị liệu hiểu được khó khăn của thân chủ, sắp xếp và tổng hợp thông tin, xác định rủi ro, lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp và khơi gợi cảm giác hy vọng vào việc trị liệu khi có được sự tán thành từ thân chủ, góp phần củng cố tinh thần liên minh, hợp tác, sự tự tin cho nhà trị liệu khi họ lựa chọn và tuân thủ theo một phương pháp tiếp cận. (Chadwick et al., 2003). Vậy còn phía thân chủ thì sao? Ta có thể chắc chắn một điều rằng các thân chủ sẽ không đi đến các phòng trị liệu để đòi một bản tổng hợp về ca (Johnstone, 2006). Hiển nhiên rằng, họ sẽ tham gia vào quá trình trị liệu để có thêm hiểu biết và hỗ trợ việc điều trị những vấn đề của họ. Roy-Choudry (2003) đã chỉ ra rằng dù ta có đi theo phương pháp lý thuyết nào thì tính chất cơ bản của tất cả các hình thức trị liệu chính là việc ra sức thấu hiểu được thân chủ, hiểu được trải nghiệm độc nhất của họ và giúp họ hiểu được những khó khăn của họ, dựa trên những thông tin mà họ đã trình bày, với thái độ dè dặt và không áp đặt. Sau cùng, bản chất của định hình ca là nắm bắt và qua đó đưa ra một phương tiện để hỗ trợ thân chủ ‘hiểu được những điều khó hiểu’ (Blackburn, James & Flitcroft (2006, tr.126). Thêm vào đó, ta cũng phải giúp thân chủ hiểu được những vấn đề của họ và những phiền muộn gắn liền, đồng thời tạo điều kiện để họ có thể xây dựng được ý nghĩa từ những trải nghiệm của họ (Johnstone, 2006).
Chúng ta cũng sẽ còn có những vấn đề lớn hơn để xem xét đến như tình trạng hạn chế về nguồn lực, nhu cầu vô tận đang ngày càng gia tăng đối với việc trị liệu tâm lý, sự thiếu thốn trong ngân quỹ dịch vụ, tất cả các vấn đề trên đã khiến nhiều nhà trị liệu bị gò bó trong một khung thời gian hạn hẹp. Chính vì vậy, họ thường rơi vào tình cảnh tự thúc ép bản thân mình phải làm việc hiệu quả hơn để chứng minh được giá trị và chi phí của những gì họ đóng góp (Eells et al., 1998; Tudor, 1998). Theo Eells và cộng sự (1998), điều này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng định hình ca vì phương pháp nàycó thể hỗ trợ nhà trị liệu trong việc sắp xếp và tổng hợp thông tin một cách súc tích (Sim và cs, 2005), phù hợp cho những ai bị gò bó trong dịch vụ trị liệu bị hạn chế về thời gian.
Dù phương pháp trên đã vấp phải nhiều lời phê phán, dường như bất kỳ ai cũng đã từng phải bước vào quá trình tự định hình dù là về thế giới, con người xung quanh hay chính bản thân họ (Johnstone, 2006). Nếu nhận định trên là đúng thì tất cả các nhà trị liệu đều đã và đang áp dụng phương pháp định hình ca, dù cho họ có bám theo lập luận lý thuyết nào đi chăng nữa. Theo quan điểm của Johnstone (2006, tr.228), điều này có nghĩa là ngay cả các phương thức trị liệu quyết liệt từ chối phương pháp định hình ca trên thực tế cũng đã và đang tận dụng đến các kỹ thuật hay chiến lược có mục tiêu là giúp thân chủ đạt được sự thấu hiểu về mặt tâm lý, hoặc là một sự định hình, nỗi đau khổ của họ. Điểm khác biệt mấu chốt có lẽ chính là tinh thần đề cao việc tôn trọng các quan điểm riêng của thân chủ.’ Theo như tranh luận của tác giả thì điều này chính là một ‘liều thuốc giải độc hữu ích đối với việc lạm dụng’ mà các phương pháp lý thuyết khác vấp phải và vì đó mà phương pháp Định hình ca bị chỉ trích, đồng thời cũng lý giải lý do tại sao các nhà trị liệu đi theo hướng cá nhân lại tỏ ra miễn cưỡng trong việc áp dụng phương pháp trên.
Các bài viết trong thời gian gần đây về phương pháp định hình ca đã nhấn mạnh bản chất mang tính hợp tác của nó và tác động tích cực mà nó mang lại cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu. Chẳng hạn như, trong bài nghiên cứu của Chadwick và cộng sự (2003), nhiều người tham gia đã cho rằng phương pháp Định hình ca đã giúp họ củng cố được sự hiểu biết về bản thân mình và mang lại cho họ cảm giác tự tin và được khích lệ (Johnstone, 2006). Cũng trong cùng nghiên cứu, các nhà trị liệu đã cho rằng họ có cảm giác được công nhận khi các thân chủ của họ có sự chấp thuận về việc sử dụng phương pháp định hình ca, và rằng phương pháp trên đã mang đến cho họ một cảm giác lạc quan về các lợi ích tiềm năng của việc trị liệu cho thân chủ, tăng cường sự hợp tác, thắt chặt liên minh điều trị, và tuân thủ một phương pháp lý thuyết mà họ đã chọn trong điều trị, vànhìn chung là giúp họ hiểu sâu hơn về những khó khăn mà thân chủ họ gặp phải. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Evans và Parry (1996) để tìm hiểu về tác động của quá trình tái định hình trong Liệu pháp Phân tích Nhận thức (CAT), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng thân chủ có cảm nhận rằng mình được nhà trị liệu lắng nghe và thấu hiểu. Như đã được nêu trên, nghiên cứu này vẫn còn có sự hạn chế và cũng vì thế mà đây chính là một lĩnh vực đang ở thời điểm chín muồi để các nhà nghiên cứu có thể tập trung vào tìm hiểu. Chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng, như Johnstone (2006, tr.230) đã chỉ ra: ‘Những chỉ trích và hạn chế về phương pháp định hình này cũng phản ánh những chỉ trính và hạn chế của chính liệu pháp.’
Một khía cạnh khác mà phương pháp Định hình ca được cho là có ích chính là vai trò của nó trong việc đưa ra một hướng đi khác cho việc chẩn đoán bệnh bởi nó có thể cung cấp cho ta một bản tường thuật có ý nghĩa cá nhân về những khó khăn của một người (Boyle, 2001). Điều này đi ngược với các quan điểm của Rogers (1951) khi ông cho rằng việc định hình là quá trình ‘chẩn đoán tâm lý.’ Đây chính là điểm có thể khiến chúng ta cảm thấy bối rối trong mô hình nhân vị trọng tâm dưới ý tưởng của định hình ca bởi vì Rogers (1951) đã có quan điểm xem nó như là thứ gì đó dẫn đến định hình một kế hoạch trị liệu dựa trên việc đánh giá và chẩn đoán. Đây cũng chính là quan điểm được ủng hộ bởi các nhà lý thuyết đương đại (Mearns, 1997). Gillon (2007) đã từng có một bài viết ngắn gọn về phương pháp Định hình trong trị liệu nhân vị trọng tâm và thực hành đương đại về sức khỏe tâm thần, đồng thời đã nêu lên rằng:
‘… vốn dĩ việc chẩn đoán khi đặt kiến thức và chuyên môn của nhà trị liệu lên trên thân chủ… một tiến trình mà… là một quá trình mà qua đó, dù được tiến hành một cách song phương nhất có thể, vẫn nghiêng hẳn về các lý thuyết tâm lý để có thể hiểu được những khó khăn của thân chủ, từ đó làm xao nhãng trải nghiệm và nhận thức riêng của thân chủ, nhường chỗ cho tri thức của nhà trị liệu.”.’
Tuy vậy, Gillon (2007) đã không hoàn toàn chối bỏ đi ý niệm này mà thay vào đó đề xuất rằng khi ta xem xét định hình ca trong một mô hình nhân vị trọng tâm, điều quan trọng nhất chính là quá trình ‘định hình’ mà thân chủ chia sẻ với nhà trị liệu. Những quan điểm trên không phải không tương đồng với quan điểm của Tarrier (2006), người cho rằng nếu phát huy được hiệu quả vốn có của nó thì định hình ca phải là một nỗ lực mang tính hợp tác, cân nhắc đến các quan điểm và niềm tin của thân chủ mà không áp đặt nó lên thân chủ vì điều này cho thấy nó xuất phát từ khung tham chiếu của nhà trị liệu. Do vậy, chúng ta có thể sẽ thắc mắc về việc liệu sẽ có một vùng trung lập mà qua đó những người tham vấn tâm lý có thể tiến hành áp dụng phương pháp định hình ca trong khuôn khổ mô hình nhân vị trọng tâm hay không.
Vai trò của phương pháp định hình ca trong thực hành liệu pháp nhân vị trọng tâm: Liệu có cần thiết?
Những tiến triển trong thời gian gần đây về lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm có liên quan đến vai trò và tính thiết thực của việc đánh giá và chẩn đoán có thể giúp chúng ta trả lời được câu hỏi được nêu trên (Wilkins, 2006). Việc đánh giá và chẩn đoán thường gắn liền với mô hình y tế và từ trước đến nay đã bị bác bỏ bởi những người hành nghề theo hướng nhân vị trọng tâm (Mearns, 1997). Và như đã nêu, vai trò của phương pháp định hình ca từ trước đến nay đã luôn nhất quán phù hợp với cả hai và do đó đã bị bác bỏ, vì theo một nghĩa nào đó, nó bị kết tội vì có sự liên đới trên.
Điều quan trọng là phải chỉ ra được điểm khác biệt giữa những khái niệm trên. Đánh giá là một quá trình khai thác bệnh sử, thường sẽ bao gồm việc thu thập thông tin về một hay nhiều vấn đề biểu hiện ở thân chủ và các yếu tố căn nguyên dẫn đến sự khởi phát của khó khăn. Quá trình trên có thể liên quan đến các bài kiểm tra và đo lường khách quan (Joseph & Linely, 2006). Về cơ bản thì nó chính là giai đoạn đầu tiên của định hình ca vì thông tin được thu thập sẽ giúp các nhà thực hành trị liệu hiểu được các vấn đề của thân chủ. Chẩn đoán chính là việc dán nhãn hoặc phân loại các khó khăn thu thập được từ quá trình đánh giá và định hình, thường sẽ được đặt vào trong khuôn khổ của một mô hình y tế. Nhiều tác giả đã công nhận sự cấp thiết đối với các nhà thực hành, đặc biệt là những ai có chức vụ trong các hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần, trong việc cởi mở với ý tưởng đánh giá và chuẩn đoán (Bozarth, 1998; Stiles, 2001; Wilkins & Gill, 2003; Wilkins, 2006). Trên thực tế, chính Rogers (1957) cũng được cho là đã thừa nhận tính thiết thực của việc chẩn đoán khi nói đến quan hệ trị liệu vì nó giúp nhà trị liệu hiểu rõ hơn những khó khăn của thân chủ và từ đó củng cố sự thấu cảm và đồng điệu (Berghofer, 1996; Binder & Binder, 1991; Schmid, 1992). Cả Sommerbeck (2007) và Gibbard (2008) đã từng viết về những thách thức khi làm việc trong các hệ thống sức khỏe tâm thần và Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) dưới vai trò là các nhà trị liệu đi theo hướng nhân vị trọng tâm nhưng đồng thời cũng đã chỉ ra rằng chúng ta có thể tuân theo lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm trong một khuôn khổ mà về mặt truyền thống vốn bị chỉ trích là phi nhân tính.
Tuy nhiên, việc đánh giá và định hình không nhất thiết phải dẫn đến chẩn đoán và ta có thể hoàn toàn thực hiện cả hai mà không cần chẩn đoán cho thân chủ. Joseph và Linley (2006) đã chỉ ra rằng các nhà trị liệu nhân vị trọng tâm không thường xuyên tìm hiểu bệnh sử, đánh giá, định hình hay chẩn đoán cho các thân chủ. Tuy nhiên, họ cũng đã thừa nhận rằng các nhà trị liệu đi theo hướng thân chủ trọng tâm sẽ khác nhau ở mức độ mà họ cho là cần thiết đối với các hoạt động nêu trên. Trên một phương diện nào đó, chúng ta sẽ có sự sai lầm khi cho rằng tất cả các nhà liệu đi theo hướng thân chủ trọng tâm đều nhất quyết bác bỏ việc đánh giá và chẩn đoán (Wilkins, 2006). Tuy nhiên, các nhà tham vấn tâm lý phần nào đó khác với các nhà trị liệu nhân vị trọng tâm ở chỗ: điểm đặc thù trong năng lực lâm sàng của họ là họ cần phải có khả năng thực hiện việc đánh giá tâm lý và định hình các vấn đề hiện hữu ở thân chủ trong khuôn khổ của mô hình lý thuyết mà họ lựa chọn, và việc này bao gồm cả những ai ủng hộ mô hình nhân vị trọng tâm. Vì vậy, họ cần phải tìm được một phương hướng để tuân theo các yêu cầu trong các chương trình đào tạo chuyên môn của họ và đồng thời trân quý và tôn trọng nền tảng triết lý của mô hình lý thuyết nhân vị trọng tâm.
Nhiều nhà tham vấn tâm lý làm việc trong hệ thống NHS đã quá quen với những thách thức trong việc tiến hành liệu pháp có sự hạn chế về thời gian, đã được minh chứng qua nghiên cứu, có giá thành thấp, thể hiện được tính hiệu quả về kết quả đạt được (Tudor, 2008; Gibbard, 2008). Và các thách thức sẽ càng lớn hơn đối với những ai ủng hộ việc áp dụng phương pháp nhân vị trọng tâm vào thực hành lâm sàng. Tuy vậy, chúng ta có thể thực hiện liệu pháp nhân vị trọng tâm trong khuôn khổ của một lĩnh vực mà các mô hình y tế đang thống trị. Việc tiếp đón các khái niệm như đánh giá, chẩn đoán và định hình ca không đồng nghĩa với việc ta phải nhất thiết từ bỏ thực hành nhân vị trọng tâm. Cái mà chúng ta cần phải làm chính là cân nhắc kỹ lưỡng về ‘cách thức’ tiến hành trị liệu.
Tích hợp giữa lý thuyết và thực hành
Theo như Sim và cộng sự (2005), vị thế của định hình ca chính là điểm giao thoa giữa căn nguyên và tường thuật, giữa khoa học và nghệ thuật, giữa lý thuyết và thực tiễn. Với tư duy này, làm thế nào để một nhà tham vấn tâm lý hoạt động trong một khung làm việc nhân vị trọng tâm có thể dung hợp các yếu tố trên để giới thiệu và triển khai định hình ca cho thân chủ của họ mà không làm mất đi bản chất của lý thuyết lẫn thực hành, vốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì vị thế bên trong khung tham chiếu nội tại của thân chủ? Đây không phải là một công việc dễ dàng và đòi hỏi ta phải có sự nhạy bén, căn chỉnh thời gian, nắm bắt và tin tưởng vào bản thân và lý thuyết. Theo như Wilkins thì trị liệu sẽ có hai yếu tố thiết yếu, hay nếu nói theo Schmid (2003) thì ông khẳng định rằng trị liệu tức là nói đến “chúng ta” và từ đó, quan hệ nhân vị trọng tâm phải mang tính hợp tác, cộng tác, cùng tạo dựng và cùng trải nghiệm.’ Thông tin ta thu thập được từ thân chủ thông qua việc đánh giá và định hình ca trở thành sự hiểu biết mà ta chia sẻ và giải thích cho thân chủ có thể giúp ta đảm bảo được rằng mối quan hệ sẽ giữ được tính chất ‘đồng kiến tạo’ và ‘đồng trải nghiệm.’ Thật vậy, Mearns và Cooper (2005, tr.9) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nhu cầu muốn có được ‘sự tương tác qua lại, song phương và tương hỗ hơn’ trong thực hành liệu pháp nhân vị trọng tâm. Đặc biệt, điều này sẽ có mối quan hệ mật thiết với các nhà tham vấn tâm lý, khi họ chú trọng sự giao tiếp mang tính tương giao và chất lượng của mối quan hệ trị liệu được cho là then chốt. Thêm vào đó, họ cũng sẽ đặt trọng tâm vào trải nghiệm chủ quan của thân chủ, tôn trọng thân chủ theo quan điểm của họ, ủng hộ sự đa dạng về cách nhìn chân lý, và xem trọng các phương pháp trị liệu khác nhau (Strawbridge & Woolfe, 2003).
Do đó, đối với các nhà tham vấn tâm lý, dường như có thể đưa ra một suy đoán hợp lý rằng khi nói đến vai trò của định hình ca, thay vì xem nó như một phương pháp can thiệp để dẫn dắt, chỉ hướng hoặc điều khiển quá trình trị liệu, ta có thể xem nó như là một phần của quá trình trị liệu có tiềm năng tạo điều kiện thuận lợi cho trải nghiệm, nhận thức và sự hiểu biết trong trị liệu của thân chủ. Mặc dù phương pháp trên là một quá trình mang tính hợp tác, chúng ta vẫn luôn phải đặt trọng tâm vào câu chuyện của thân chủ, duy trì khung tham chiếu nội tại của thân chủ, với mục đích duy nhất là tạo điều kiện và thúc đẩy thân chủ hiểu rõ bản thân cũng như những khó khăn có liên quan của họ hơn. Joseph và Linley (2006) đã chỉ ra rằng vấn đề không nằm ở việc nhà trị liệu thực hiện được những gì mà thay vào đó là cách mà họ thực hiện. Mặc dù các tác giả có ý đề cập đến cách áp dụng việc đánh giá trong thực tiễn lâm sàng, ý tưởng trên cũng giống với khi ta nói đến việc áp dụng phương pháp định hình ca. Điều này có nghĩa là, ta hỏi thân chủ về việc liệu họ có đồng ý để những khó khăn của họ được định hình và chia sẻ lại với họ hay không. Với cách làm như vậy, ta cho thấy sự tôn trọng tính tự chủ của thân chủ, trao cho họ sự lựa chọn trong việc chấp nhận hay từ chối phương pháp, và qua đó đảm bảo được rằng họ vẫn sẽ luôn duy trì được phương hướng của quá trình trị liệu.
Theo như Yalom (2001), các nhà trị liệu sẽ được xem như là những người bạn đồng hành cùng thân chủ của họ trong suốt hành trình trị liệu và qua đó mà phương pháp định hình ca sẽ đóng vai trò như một tấm bản đồ hay cuốn sổ tay hướng dẫn hữu ích trong quá trình mà cả thân chủ lẫn nhà trị liệu sẽ trải qua để đi vào những vùng đất chưa được khai phá trong tâm trí, cảm xúc, và các sự kiện quan trọng trong cuộc đời của thân chủ, các yếu tố đã đưa thân chủ đi đến thời điểm hiện tại khi họ tìm đến phiên trị liệu. Định hình ca sẽ hỗ trợ cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu trong việc thấu hiểu được điều đó. Hình 1 cho ta thấy một mô hình để tích hợp tư liệu ca lâm sàng của thân chủ vào trong khung lý thuyết nhân vị trọng tâm.
Để minh họa tường tận hơn, bài viết sẽ đặt ra cái nhìn tổng quan về hai ví dụ ca hư cấu được lồng ghép vào bản định hình ca trên.
Hình 1: Mô hình lý thuyết để tích hợp tư liệu của thân chủ vào định hình ca về những khó khăn tâm lý theo hướng nhân vị trọng tâm

Ví dụ ca lâm sàng 1
‘Anh Joe’ được một bác sĩ đa khoa giới thiệu để đi gặp tham vấn tâm lý do mắc phải những đợt trầm cảm và có suy nghĩ tự vẫn. Trong suốt hai phiên tham vấn đầu tiên, nhà tham vấn đã thấy rõ được rằng anh Joe đang gặp phải khó khăn trong việc chấp nhận hiện thực rằng bản thân mình là người đồng tính. Anh hiện đang 19 tuổi và sống tại nhà. Anh Joe cho rằng từ năm 14 tuổi anh đã ý thức được rằng mình là người đồng tính nhưng đã không muốn công nhận điều đó với chính bản thân mình. Anh đã dành suốt 5 năm qua để cố gắng tự thuyết phục bản thân rằng mình không phải là đồng tính bằng cách tiến tới các mối quan hệ với phụ nữ. Tuy nhiên, cho đến nay thì anh đã không còn khả năng phủ nhận việc anh không phải là người dị tính nữa, sau khi anh đã có vài lần tình một đêm với những người đàn ông mà anh gặp được ở trên mạng.
Theo quan điểm của trị liệu nhân vị trọng tâm thì ‘anh Joe’ đang ở trạng tình trạng bất hòa hợp nội tại vì anh vẫn chưa ‘bộc lộ’ xu hướng tính dục của mình, và vì thế mà anh đã tạo ra một lớp vỏ bọc ở bên ngoài để nói thế giới xung quanh rằng mình là một người đàn ông dị tính trong khi tâm trí anh biết rõ mình là người đồng tính. Trong suốt các phiên tham vấn, anh đã bàn luận về cái nhìn tiêu cực của gia đình mình về người đồng tính và họ cho rằng những người như vậy là ‘ghê tởm’, ‘bệnh hoạn’, ‘hoàn toàn sai trái’ và ‘vô đạo đức’. Thêm vào đó, gia đình còn kỳ vọng vào việc anh sẽ tìm được một người bạn đời khác giới để lập gia đình và ổn định cuộc sống. Ở tuổi 19, cha mẹ và các anh chị em của Joe đã thắc mắc rằng liệu anh đã có bạn gái hay chưa và nếu có thì khi nào anh mới giới thiệu bạn gái đến nhà để ra mắt gia đình mình. Mẹ anh cũng thường bày tỏ mong muốn có được nhiều cháu chắt để sum vầy. Do vậy, anh Joe đã nhìn về tương lai của mình với sự bi quan và nỗi tuyệt vọng. Trên phương diện nhân vị trọng tâm, ta có thể cho rằng khuynh hướng hiện thực hóa của ‘anh Joe’ đã gặp phải những trở ngại được gây ra bởi các điều kiện cảm thấy xứng đáng về dị tính mà anh đã tiếp thu từ thuở nhỏ.
Một phần trong các phiên tham vấn khởi điểm sẽ xoay quanh việc ‘anh Joe’ khai phá các phản ứng của bản thân khi là người đồng tính và những tác động của điều này lên cuộc sống hiện tại và tương lai của anh. Dẫu vậy, điều khó khăn nhất đối anh chính là làm thế nào để nói với gia đình. Chính tại thời điểm này trong hành trình đấu tranh ‘nội tâm’ cho việc bộc lộ xu hướng tính dục, anh đi đến giai đoạn khủng khoảng khi tâm trạng trở nên vô cùng tồi tệ và anh đã bắt đầu có suy nghĩ tự vẫn khi anh ngày càng cảm thấy mệt mỏi để có thể duy trì lớp vỏ bọc dị tính bên ngoài trước gia đình và bạn bè. Anh có mặc cảm tội lỗi và xấu hổ vì là người đồng tính, anh lo sợ về quan niệm phản đối đồng tính mạnh mẽ từ phía gia đình anh và việc họ sẽ phản ứng như thế nào khi anh nói cho họ biết sự thật. Lúc này anh đã hoàn toàn bấn loạn nhưng đồng thời cũng không còn khả năng tiếp tục sống khác với con người thật của mình. Hình 2 là bản tóm tắt tạm thời về những nỗi khổ của ‘anh Joe’ được tích hợp vào trong một mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm.
Hình 2: Sơ đồ định hình tạm thời về các trở ngại tâm lý của ‘anh Joe’ được tích hợp vào mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm

Ví dụ ca lâm sàng 2
Cô Jen, 29 tuổi, hành nghề cố vấn pháp lý, được giới thiệu để đi gặp tham vấn tâm lý do gặp phải tình trạng trầm cảm và tự ti về bản thân. Trong suốt quá trình đánh giá, cô đã chia sẻ rằng trong thời gian gần đây cô đã được thăng chức và được xem là một trong những gương mặt sáng sủa và tiềm năng nhất trong công ty của cô. Nhìn từ bên ngoài thì cô cho rằng mình dường như đang có một cuộc sống ‘viên mãn’: một công việc ổn định, một cuộc sống xã giao bận rộn với bạn bè mặc dù cô chẳng hề đặc biệt thân thiết với ai. Trên thực tế, cô lại cho rằng bản thân mình khó gần với mọi người xung quanh và thường có cảm giác cô đơn. Cô không thể hiểu được vì sao mà những người khác lại có được cái nhìn tích cực về mình hay thậm chí là yêu mến cô, trong khi cô có thể thấy rõ được tất cả các khuyết điểm của bản thân.
Ba tháng trước, một khách hàng của công ty cô đã ra quyết định làm việc với một công ty khác và mặc dù quyết định trên đến từ nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của cô, Jen vẫn cảm thấy bản thân có lỗi. Cô đã gán ghép sự mất mát này với vị trí của mình khi được thăng chức. Trước đó cô đã được phân công làm việc với người khách hàng trên và giờ thì cô tự trách chính mình về quyết định của họ vì cô tin rằng mình đã không làm việc đủ chăm chỉ để cung cấp được một dịch vụ chất lượng. Kể từ đó, cô đã xem công việc của mình như một gánh nặng, không còn thích đi làm và cũng không còn có khả năng tập trung vào công việc. Trên thực tế, nếu cô thực sự thành thực với bản thân mình thì cô lại cảm thấy mình vô cùng bất hạnh và không còn tìm thấy niềm vui nào từ công việc đang làm.
Khi tìm hiểu sâu hơn thì biết được rằng cô là con một trong gia đình và đã phải trải qua một thời thơ ấu cô đơn và tách biệt với người xung quanh. Cha mẹ cô đều là luật sư phải đi làm nhiều giờ liền và kỳ vọng là cô cũng sẽ nối nghiệp cha mẹ đi theo con đường này. Về phần mình, Jen lại muốn làm y tá nhưng không lại được bố mẹ ủng hộ. Làm việc trong một nghề đòi hỏi phải thể hiện cảm xúc và chăm sóc cho người bệnh không phải là điều không thể tưởng tượng đối với cha mẹ cô. Tuy nhiên, vì cô rất yêu thương và tôn trọng cha mẹ mình nên đã tin tưởng vào sự phán đoán của họ rằng điều gì mới tốt nhất cho mình. Họ coi trọng thành tích học tập và tinh thần chịu khó trong công việc. Bên cạnh đó, họ cũng không khuyến khích cô kết bạn với người khác. Trên thực tế, cha mẹ cô cho rằng hầu hết những con người xung quanh đều không đáng tin cậy. Theo như mô tả của cô thì mối quan hệ giữa cô và cha mẹ bị thiếu đi sự gắn kết về mặt tình cảm khiến cho cô cảm thấy họ rất xa cách và tách biệt về mặt cảm xúc. Theo như cảm nhận của bản thân, cô thấy mình chưa bao giờ được yêu thương và bị bố mẹ cấm đoán trong việc bày tỏ tình thương. Tuy là một người có thành tích cao, Jen cho rằng bố mẹ cô luôn thúc đẩy cô đạt được những điều cao xa hơn. Cô không thể nhớ nổi có lúc nào đó ở quá khứ mà cha mẹ cảm thấy hãnh diện về cô, khen ngợi cô hay ủng hộ cô. Thậm chí ngay cả việc cô được thăng chức trong thời gian gần đây cũng không nhận được bất kỳ một phản ứng tích cực nào từ cha mẹ. Hơn thế nữa, khi cô chia sẻ với cha mẹ về việc đánh mất đi một khách hàng của công ty thì họ lại cho rằng đấy là lỗi của cô và đấy là bằng chứng cho thấy rằng cô ‘không phù hợp với công việc’ hay ‘không xứng đáng để được thăng chức’.
Theo góc nhìn của trị liệu nhân vị trọng tâm, ta có thể hiểu rằng những tiêu chuẩn về giá trị mà Jen tiếp thu từ thuở nhỏ đều xoay quanh đến việc học thật tốt, làm việc chuyên nghiệp, và luôn cố gắng trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Điều quan trọng là cô phải luôn gắng sức làm hài lòng cha mẹ và sống đúng với kỳ vọng mà họ đặt ra cho cô. Các mối quan hệ không được xem trọng và việc bộc lộ cảm xúc là dấu hiệu của sự yếu đuối, điều này đã khiến cho cô gặp khó khăn trong việc kết thân với những người xung quanh. Trong nhiều năm trời, cô đã dốc sức nỗ lực để trở thành một người trong kỳ vọng của bố mẹ thay vì theo đuổi một công việc mà cô cho đáng giá và bộc lộ con người thật của mình, một người ân cần muốn được chăm sóc cho người khác. Như vậy, khuynh hướng hiện thực hóa của cô đã gặp phải trở ngại và cô đã rơi vào trạng thái xung đột bất nhất khi công ty của cô bị mất đi một khách hàng, mặc dù cô được thăng chức, cột mốc chứng minh sự thành công của cô. Việc cô tự đổ lỗi cho bản thân trước sự mất mát này ngay cả khi có bằng chứng cho thấy điều ngược lại đã khiến cho cô làm vào tình trạng trầm cảm, làm dấy lên cảm giác tự ti và xa lánh những người xung quanh. Làm tình trạng xung đột này trầm trọng hơn chính là việc cô nhận ra rằng bản thân mình không muốn dấn thân vào nghề cố vấn pháp lý nữa và trên thực tế cô chưa bao giờ muốn làm nghề này. Bản ngã mà cô đã thể hiện ra trước thế giới xung quanh mình chỉ đơn thuần là một cái vỏ bọc (theo như Hình 3).
Cả hai ví dụ ca lâm sàng được nêu trên và bản định hình những khó khăn của họ trong khung lý thuyết nhân vị trọng tâm giúp cho các thân chủ thấy được các mối liên hệ hay ‘liên kết các điểm’ trong cuộc đời của họ lại với nhau từ thời thơ ấu cho đến hiện tại để có được cái nhìn tổng quan về cách mà những nỗi khổ cụ thể của họ khởi phát, tồn đọng và kéo theo đó là những tác động đến nhận thức, cảm xúc, hành vi và các trở ngại trong quan hệ giữa các cá nhân. Phương pháp định hình ca lâm sàng sẽ giúp nhà tham vấn tâm lý có được cái nhìn thấu suốt vào thế giới quan của thân chủ và hiểu rõ hơn bản chất cá nhân độc nhất của vấn đề trong thân chủ. Phương pháp này cũng có thể tạo điều kiện cho nhà tham vấn thấu hiểu được thân chủ thông qua việc giúp nhà tham vấn khai sáng được ý nghĩa của các sự kiện và tầm ảnh hưởng của chúng lên các cá nhân. Thêm vào đó, phương pháp sẽ giúp chúng ta đảm bảo được sự tuân thủ theo mô hình lý thuyết vì quan điểm căn bản của lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm chính là việc xóa bỏ những điều kiện về giá trị trong suốt quá trình trị liệu như một phương tiện cải thiện sức khỏe tinh thần. Như Joseph và Linely (2006, tr.43) đã nói: ‘… tuy khuynh hướng hiện thực hóa là động lực thúc đẩy duy nhất trong chúng ta, nó sẽ gặp phải trở ngại và bị kìm hãm bởi các điều kiện về giá trị mà ta tiếp thu từ bên ngoài.’ Mô hình trên chính là một phương tiện mà qua đó nhà trị liệu có thể nắm bắt được mối liên hệ giữa tất cả các yếu tố trên và cách thức mà chúng có thể trở thành các trở ngại của thân chủ.
Hình 3: Sơ đồ tổng hợp sơ bộ về các trở ngại tâm lý của ‘cô Jen’ được tích hợp vào mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm

Kết luận
Mục đích của bài báo này là bàn luận về vai trò của phương pháp định hình ca trong mô hình nhân vị trọng tâm đối với các nhà tham vấn tâm lý và liệu rằng một phương pháp thường bị phê phán là một quy trình đậm tính ‘kỹ thuật’ phù hợp với mô hình y tế có có thực sự phù hợp với đạo đức, triết lý và thực hành của nghề nghiệp và nền tảng lý thuyết của phương pháp này hay không. Dù dữ liệu nghiên cứu trong lĩnh vực trên vẫn có sự hạn chế cùng với sự nhấn mạnh về các tác động tiêu cực từ việc áp dụng phương pháp định hình ca trong thực hành lâm sàng thường quy, tác giả đã đưa lên quan điểm rằng phương pháp trên vẫn sẽ đóng một vai trò hữu ích khi được đặt trong mô hình nhân vị trọng tâm dựa trên lý thuyết. Hơn thế nữa, chúng ta có thể yên tâm áp dụng phương pháp trong thực hành lâm sàng thường xuyên miễn là nó được thực hiện theo phương hướng tôn trọng quyền lựa chọn, tự chủ và kiến thức chuyên sâu của thân chủ. Việc duy trì trong khung tham chiếu của thân chủ sẽ giúp ta đảm bảo được việc tạo điều kiện để họ kể lại câu chuyện của mình theo phương hướng có thể đặt họ vào vị thế của chuyên gia và xem họ là ‘tác giả’ độc nhất của cuộc đời họ. Vai trò của nhà tham vấn tâm lý chính là lắng nghe câu chuyện này, suy ngẫm lại những chi tiết và xâu chuỗi lại các mảnh ghép mỏng manh từ cuộc đời của thân chủ để giúp họ hiểu được chính câu chuyện của họ. Chỉ với thông tin mà thân chủ cung cấp. Để tuân thủ theo mô hình nhân vị trọng tâm, nhà tham vấn tâm lý cần phải tránh việc suy diễn hay tô vẽ các thông tin đã được cung cấp. Ta có thể hỗ trợ và cải thiện quá trình này thông qua việc tận dụng mô hình sơ đồ bản công thức tóm gọn theo hướng nhân vị trọng tâm đã được phác thảo. Bằng cách làm này, ta có thể củng cố sự hiểu biết, khả năng nhận thức, thấu hiểu của thân chủ và củng cố liên minh trị liệu do nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có thể gia tăng sự đồng cảm. Việc giữ vững khung tham chiếu của thân chủ sẽ giúp chúng ta đảm bảo được lập trường không phán xét, khuyến khích sự phát triển cá nhân và tiềm năng của thân chủ để đảm bảo được phương pháp tiếp cận nhân vị trọng tâm sẽ luôn được duy trì.
(Quang Thái dịch, ThS. Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính)
Counselling Psychology Review, Vol. 26, No. 2, June 2011
Correspondence
Jane Simms
Chartered Counselling Psychologist,
University of Ulster,
School of Communication,
Newtownabbey,
County Antrim,
BT37 OQB,
Northern Ireland.
Tel: 02890 366957
Email: j.simms@ulster.ac.uk
Tài liệu tham khảo
Bennett, P. (2003). Abnormal and clinical psychology: An introductory text. Maidenhead: Open Univer- sity Press.
Berghofer, (G. (1996). Dealing with schizophrenia – a person-centred approach to long-term patients in a supported residential service in Vienna. In S. Joseph & R. Worsley (2007), Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Binder, U. & Binder, H. (1991). Studien zu einer Storungsppezifischen Klienzentrierten Psycho- therapie. In S. Joseph & R. Worsley (2007), Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Blackburn, I.M., James, I.A. & Flitcroft, A. (2006). Case formulation in depression. In N. Tarrier, Case formulation in cognitive behaviour therapy. London: Routledge.
Boyle, M. (2001). Abandoning diagnosis and (cautiously). adopting formulation. Paper presented at the British Psychological Society Centenary Conference, Glasgow.
Bozarth, J.D. (1998). Person-centred therapy: A revolu- tionary paradigm. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Bozarth, J.D. (2000). Non-directiveness in client-centred therapy: A vexed concept. Paper presentation at the Eastern Psychological Association, Baltimore. www.personcentered.com/nondirect.html
British Psychological Society (2010). Guidance for Counselling Psychology Programmes. September. http://www.bps.org.uk/partnership.
Butler, G. (1998). Clinical formulation. In L. John- stone & R. Dallos (2006). Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routledge.
Chadwick, P., Williams, C. & Mackenzie, J. (2003). Impact of case formulation in cognitive behaviour therapy for psychosis. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.
Cooper, M. (2007). Person-centred therapy: Myth and reality. http://www.strath.ac.uk/Departments/counsunit/ features/article_pct.html
Dallos, R. & Stedmon, J. (2006). Systemic formula- tion: Mapping the family dance. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge. Eells, T.D., Kendjelic, E.M. & Lucas, C.P. (1998). What’s in a case formulation? Development and use of a Content Coding Manual. Journal of Psychotherapy Practice and Research, 7(2), 144–153.
Eells, T.D. (2007). Handbook of psychotherapy case formu- lation. New York: Guilford Press.
Eells, T. D. (2009). Contemporary themes in case formulation. In P. Sturmey (2009). Clinical case formulation: Varieties of approaches. UK: Wiley- Blackwell.
Evans, G. & Parry, J. (1996). The impact of reformula- tion in cognitive analytic therapy with difficult to help clients. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routledge.
Gillon, E. (2007). Person-centred counselling psychology: An introduction. London: Sage.
Gibbard, I. (2008). ‘In the world, but not of it’: Person-centred counselling in primary care. In K. Tudor, Brief person-centred therapies. London: Sage.
Health Professions Council (2009). Standards of Profi- ciency – Practitioner Psychologists. www.hpc-uk.org.
Johnstone, L. (2006). Controversies and Debates about Formulation. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.
Johnstone, L & Dallos, R. (2006). Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.
Joseph, S. & Linley, P.A. (2006). Positive therapy. London: Routledge. Leiper, R. (2006). Psychodynamic formulation. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.
Maddil , A., Widdicombe, S. & Barkham, M. (2001). The potential of conversation analysis for psychotherapy research. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.
Masson, J. (1990). Against therapy. London: Fontana. Mearns, D. (1997). Person-centred counselling training. London: Sage.
Mearns, D. & Thorne, B. (2006). Person-centred therapy today: New frontiers in theory and practice. London: Sage.
Mearns, D. & Cooper, M. (2005). Working at relational depth in counselling and psychotherapy. London: Sage.
Proctor, G. (2002). The dynamics of power in counselling and psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Rogers, C. (1951). Client-centred therapy. London: Constable & Robinson Ltd.
Roy-Choudry, S. (2003). What is this thing called Psychotherapy? Clinical Psychology, 29, 7-11.
Ryle, A. (1995). Cognitive analytic therapy: develop- ments in theory and practice. UK: Wiley.
Schmid, P.F. (1992). Das Lieden. In In S. Joseph & R.Worsley (2007). Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Schmid, P.F. (2003). The characteristics of a person- centred approach to therapy and counselling: criteria for identity and coherence. In P. Wilkins, Being person-centred. Self and Society, 34(3).
Sim, K., Gwee, Kok Peng & Bateman, A. (2005). Case formulation in psychotherapy: Revitalising its usefulness as a clinical tool. Academic Psychiatry, 29(3), July–August.
Stiles, W.B. (2001). Future directions in research on humanistic psychotherapy. In S. Joseph & R.Worsley (2007). Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Strawbridge, S. & Woolfe, R. (2003). Counselling psychology in context. In R. Woolfe, W. Dryden, & S. Strawbridge, Handbook of counselling psychology. London: Sage.
Stuart, S. & Robertson, M. (2003). Interpersonal psychotherapy: A clinicians’s guide. London: Hodder Arnold.
Sturmey, E. (2009). Clinical case formulation varieties of approaches. West Sussex: John Wiley & Sons Ltd.
Sommerbeck, L. (2007). An evaluation of research, concepts and experiences pertaining to the universality of CCT and its application in psychi- atric settings. In S. Joseph & R.Worsley, Person- centred psychopathology. Ross-on-Wye: PCCS Books.
Tarrier, N. (2006). Case formulation in cognitive behav- ioural therapy. London: Routledge.
Tudor, K. (2008). Brief person-centred therapies. London: Sage.
Tudor, K. & Merry, T. (2002). A dictionary of person- centred psychology. London: Whurt.
Weissman, M.M., Markowitz, J.C. & Klerman, G.L. (2000). Comprehensive guide to interpersonal psychotherapy. New York: Basic Books.
Wilkins, P. & Gill, M. (2003). Assessment in person- centred therapy. Person-centred and experiential ther- apies, 2, 172–187.
Wilkins, P. (2005). Assessment and diagnosis in person-centred therapy. In S. Joseph & R. Worsley, Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health (pp.128–145). Ross-on- Wye: PCCS Books Ltd.
Wilkins, P. (2006). Being person-centred. Self and Society, 34(3).
Yalom, I. (2001). The gift of therapy. London: Piatkus Books.
-
JOHN K. MCPHERRIN

MỞ ĐẦU
Mười lăm năm về trước, rất khó có thể tìm được các thông tin hay bài báo nói về trị liệu cặp đôi và gia đình thân chủ trọng tâm khi bạn có nhu cầu muốn thực hành. Các bài báo vào thời đó đã làm rất tốt việc phác thảo được nguyên tắc cơ bản của liệu pháp trên, nhưng lại không đề cập đến các nan đề và những thách thức trong trị liệu do liệu pháp hẳn vẫn còn mới lạ. Kể từ khi đó, giới nghiên cứu đã viết ra thêm các bài báo về chủ đề trên, tuy nhiên các ấn phẩm này thường không được xuất bản hoặc thường rất khó để tìm đọc. Chương sau đây sẽ trình bày rõ ràng về các cách thức dành cho các nhà lâm sàng quan tâm đến việc thực hiện trị liệu phi điều hướng dành cho cặp đôi và gia đình, và đi sâu vào các câu hỏi về bản chất của tính điều hướng trong liệu pháp này dựa trên 15 năm kinh nghiệm thực hành và quá trình thử-và-sai đáng cân nhắc. Trước khi đi vào chủ đề này, ta sẽ trình bày vắn tắt lịch sử phát triển của cách tiếp cận này để có được bối cảnh cụ thể nhằm mục đích hiểu rõ các vấn đề hơn.
NỀN TẢNG TRỊ LIỆU CẶP ĐÔI/GIA ĐÌNH THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Cũng giống như trong trị liệu cá nhân thân chủ trọng tâm, các nhà trị liệu gia đình thân chủ trọng tâm có phương pháp tiếp cận dựa trên niềm tin về khuynh hướng hiện thực hóa cũng như khuynh hướng tạo thành (Thayer, 1982; Bozarth và Shanks, 1989; Gaylin, 1990). Khuynh hướng hiện thực hóa là khuynh hướng vốn có trong mỗi người, hướng họ đến việc duy trì cũng như cải thiện bản thân và là yếu tố xúc tác duy nhất cho mọi động lực, sự phát triển và nâng cao bản thân ở con người (Bozarth and Brodley, 1991: 40). Chính khuynh hướng này sẽ giúp các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm có lòng tin sâu sắc không chỉ vào cá nhân mà còn vào gia đình và cặp đôi. Do đó, nhà trị liệu không nhất thiết phải làm việc với lối ứng xử đầy độc đoán, cũng không cần chẩn đoán hay thiết lập lại các cặp đôi/gia đình theo những phương hướng mà nhà trị liệu cho là lành mạnh hơn. Thay vào đó, người ta tin rằng một mối quan hệ mang tính trị liệu đặc trưng bởi những phẩm chất như sự thấu hiểu, chấp nhận vô điều kiện, và sự chân thật, là đủ để khuyến khích các khuynh hướng hiện thực hóa tự nhiên trong mỗi thành viên nhằm giúp họ vượt qua các sự ảnh hưởng của các hoàn cảnh bất lợi hoặc nguy hại có khả năng đã tác động đến các cá nhân trong một cặp đôi/gia đình (Bozarth and Brodley, 1991: 47).
Khuynh hướng tạo thành là một khái niệm được Rogers (1980) phát triển muộn hơn, là cái mà ông xem là một xu hướng phổ quát trong vạn vật hướng đến trật tự cao hơn và sự phức tạp có tính tương liên (Thayer, 1982: 175). Khái niệm trên lý giải khía cạnh hệ thống của một gia đình, cho thấy rằng khi ta cung cấp được một môi trường trị liệu phù hợp thì các gia đình và cặp đôi sẽ tiến đến sự cải thiện và tính trật tự. Bozarth and Shanks (1989) đã viết rằng:
…ta có thể sử dụng khái niệm khuynh hướng tạo thành kết hợp với quan điểm hiện tượng học như một mô hình để xem xét các gia đình như những hệ thống sẽ hướng đến sự cải thiện khi ta cung cấp được một môi trường trị liệu thuận lợi. Mô hình, trong trường hợp này, là một cấu trúc gia đình kết hợp cả phương thức hiện thực hóa cá nhân sinh thể và khuynh hướng tạo thành. (tr. 282)
NGUỒN GỐC CỦA TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Nathaniel Raskin và Ferdinand van der Veen (1970) đã là những người đầu tiên đề cập đến quan điểm thân chủ trọng tâm áp dụng cho trị liệu gia đình. Họ đã chỉ ra rằng việc trị liệu cho các gia đình sẽ không cần thiết phải thay thế các điều kiện trị liệu cơ bản như ông Rogers (1957) đã nêu, cũng không đòi hỏi thay thế vai trò và thái độ của nhà trị liệu. Tuy nhiên, họ cho rằng sự xuất hiện tính chân thật của nhà trị liệu – điều kiện trị liệu thứ ba của liệu pháp thân chủ trọng tâm – sẽ đặc biệt hỗ trợ cho việc mở rộng liệu pháp này ra khỏi phạm vi cá nhân.
Theo họ khẳng định, sự chân thật từ nhà trị liệu sẽ giúp họ có được một biên độ biểu cảm rộng hơn so với những gì thường thấy trong trị liệu cá nhân thân chủ trọng tâm. Việc nhà trị liệu được tự do biểu đạt hơn sẽ giúp phương pháp trị liệu thân chủ trọng tâm thuận lợi hơn khi làm việc với nhiều hơn một người. Họ nhận thấy rằng, trong bối cảnh gia đình, nhà trị liệu có thể tương tác tự do hơn, chẳng hạn như đưa ra các gợi ý hoặc các quan điểm, nhưng đồng thời cũng phải nương theo những phản ứng từ phía gia đình. Với tư cách là người tham gia vào quá trình trị liệu, nhà trị liệu có thể đi theo bản năng và cảm giác của họ, miễn là các yếu tố trên không xâm phạm đến sự tự do của các cặp đôi hay gia đình trong việc xác định điều gì là tốt nhất cho chính họ.
Một ý tưởng đáng lưu ý khác được Raskin và van der Veen đưa ra là khái niệm gia đình. Trên thực tế, khái niệm gia đình về cơ bản chính là sự phát triển của khái niệm về cái tôi (Rogers, 1959), một trong các nguyên tắc cơ bản của Rogers về việc thấu hiểu con người, nói một cách ngắn gọn, chính là sự nhận thức về bản thân dựa trên các tương tác với những người thân thiết khác trong môi trường xung quanh. Khái niệm gia đình chỉ đơn giản là tiến thêm một bước, cân nhắc đến tầm quan trọng và ảnh hưởng của gia đình và đời sống gia đình đến sự phát triển và sức khỏe tinh thần tổng thể của một người.
Ronald Levant (1978, 1984) đã tiếp nối công trình của Raskin và van der Veen thông qua việc mở rộng liệu pháp trên để áp dụng cho các gia đình và cặp đôi. Ông đã đối chiếu liệu pháp gia đình thân chủ trọng tâm với các hệ thống và phương pháp tiếp cận gia đình theo lý thuyết tâm động học mà ông cho là có khả năng gây hại cho các cá nhân tham gia khi tính điều hướng và kiểm soát quá cao. Levant (1978) đã cho rằng việc kiểm soát như vậy sẽ phớt lờ đi các yếu tố gắn liền với các kết quả tích cực trong trị liệu – sự thấu cảm, ấm áp, và chân thật (Bergin, 1967; Truax và Carkhuff, 1967; Truax và Mitchell, 1971) – và có thể dẫn đến tổn thương lòng tự trọng, giảm khả năng tự điều hướng, khiến bản thân càng xa rời trải nghiệm hơn (tr. 36).
Levant cũng đã kịch liệt chỉ trích những thái độ bi quan trong các phương pháp tiếp cận hệ thống gia đình và tâm động học khi nói đến tính khả thi và sự sẵn lòng thay đổi của các gia đình khi để mặc cho các thành viên tự quyết định. Ông cho biết rằng các khái niệm về sức đề kháng và cân bằng nội môi trái ngược với niềm tin vào một quá trình tự điều hướng, điều mà Levant coi là thiết yếu để một sự thay đổi đúng nghĩa diễn ra trong gia đình. Đồng thời, ông cũng không hoàn toàn bỏ qua các yếu tố cốt lõi của cà hai liệu pháp. Khi đề xuất một quan điểm hiện tượng học về gia đình, ông Levant đã tìm cách kết nối các niềm tin nội tâm của các nhà thực hành tâm động học với các niềm tin mang tính hệ thống của các nhà thực hành hệ thống bằng cách khẳng định rằng các tác động ngoại tại và nội tại đều chi phối cách mà con người liên hệ, hành xử và cảm nhận trong gia đình của họ.
Levant đã giải thích thêm rằng nhà trị liệu thân chủ trọng tâm sẽ không quan tâm đến việc tìm hiểu kỹ càng lai lịch gia đình, chẩn đoán, vẽ ra phác đồ điều trị, cũng không áp dụng bất cứ các kỹ thuật trị liệu nào. Thay vào đó, vai trò của nhà trị liệu là thấu hiểu được mỗi thành viên trong gia đình và truyền đạt lại sự thấu hiểu đó cho họ, đồng thời tạo nên một bầu không khí tôn trọng, trung thực, tin tưởng và thấu hiểu lẫn nhau, từ đó giúp họ giải phóng các khả năng vốn có của gia đình trong việc thay đổi, tái tổ chức hoặc hành động theo những cách có thể thúc đẩy sự thay đổi, phát triển, và chữa lành. Louis Thayer (1982) đã đưa ra bản tóm tắt toàn diện về liệu pháp gia đình thân chủ trọng tâm. Thayer đã chỉ ra hai chức năng có ý nghĩa đặc biệt của nhà trị liệu gia đình thân chủ trọng tâm, phù hợp với những luận điểm mà Raskin và van der Veen (1970) và Levant (1982) đã nêu trong công trình nghiên cứu của họ. Một là, nhà trị liệu phải nhận thức được trải nghiệm cá nhân trong phiên trị liệu và liên hệ các ý nghĩ và cảm xúc đó với gia đình. Hai là, nhà trị liệu phải tin tưởng và bộc lộ các cảm nhận trực giác, tránh việc lúc nào cũng phụ thuộc vào lý luận và trí tuệ để thấu hiểu và tương tác với gia đình. Tuy nhiên, Thayer đã không chỉ rõ phạm vi các kiểu giao tiếp cá nhân trên có thể tiến xa đến đâu.
SỰ PHỨC TẠP CỦA TÍNH CHÂN THẬT/HÒA HỢP
Ned Gaylin (1989) chỉ ra rằng Rogers đã định nghĩa sự hòa hợp của nhà trị liệu là khi họ được tự do là chính mình hoàn toàn (p. 271). Thái độ cởi mở với trải nghiệm (tr. 271) hay sự tự tin của nhà trị liệu sẽ giúp họ thấy được bản thân mình và thân chủ một cách chính xác và rõ ràng. Tuy nhiên, rất khó để ta biết được điều này sau đó đã chuyển thành liệu pháp gia đình như thế nào, đặc biệt là khi một số nhà trị liệu đặt nặng tính chân thật hơn khi thực hành trị liệu gia đình (Levant, 1982; Raskin và van der Veen, 1970). Một số nhà thực hành thân chủ trọng tâm đã bày tỏ niềm tin của họ về tầm quan trọng của tính chân thật từ nhà trị liệu trong các phiên làm việc với gia đình, nhưng việc thể hiện thái độ này cụ thể đòi hỏi những hành vi nào thì vẫn còn mơ hồ (Bozarth và Shanks, 1989; Gaylin, 1989; O’Leary, 1989; Rombauts và Devriendt, 1990). Qua việc thu thập kết quả khảo sát từ 15 nhà trị liệu thân chủ trọng tâm, Jan Rombauts và Monica Devriend (1990) đã khẳng định rằng các nhà trị liệu này có sự khác biệt ở mức độ thể hiện các phản ứng chủ quan trong trị liệu cặp đôi. Đa số các nhà trị liệu đều đồng ý rằng việc tránh các phản ứng cá nhân là điều quan trọng vì nó sẽ làm hao tổn năng lượng mà họ vốn dĩ nên dùng để thấu hiểu trải nghiệm của mỗi thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, cũng có người đồng thuận rằng họ đều đã được trải nghiệm cả phản ứng tích cực lẫn tiêu cực trong suốt quá trình.
Bozarth và Shanks (1989) đã định nghĩa sự chân thực của nhà trị liệu là khi họ được là chính mình trong mối quan hệ mà không cần phải mang lớp mặt nạ chuyên nghiệp hay cá nhân giả tạo (tr. 283). Đối với họ, trong trị liệu cặp đôi, việc này được hiểu là thỉnh thoảng sử dụng trải nghiệm cá nhân để nhìn lại sự hiểu biết, và cũng có nghĩa là có cảm thấy thoải mái trong việc chia sẻ các hình ảnh và ẩn dụ mang tính cá nhân mà bản thân nghĩ ra trong phiên trị liệu để hỗ trợ và truyền đạt những gì mình thấu hiểu một cách hiệu quả.
Trong phiên trị liệu cặp đôi của mình, Barbara Brodley đôi lúc đã đưa ra cái mà bà gọi là ‘phản ứng tự phát’ (1953). Các phản ứng này sẽ bao gồm các phương hướng giao tiếp và hành vi, và những lời khẳng định trực tiếp về các ý tưởng, quan niệm, và các trải nghiệm trong quá khứ của bà. Mặc dù các phản ứng tự phát không xuất hiện nhiều trong công việc của bà Brodley, chúng xuất phát từ cảm nhận của bà rằng thân chủ có lẽ sẽ quan tâm đến lời nói của bà và có thể nhìn nhận được vấn đề hay khó khăn họ gặp phải là ‘bình thường’ hơn dựa trên việc giao tiếp cá nhân của bà. Những phản ứng tự phát không phải lúc nào cũng có liên quan đến những gì mà thân chủ đang bày tỏ; theo Carol Topping (1993), thân chủ không nhất thiết phải yêu cầu hay mong chờ các phản ứng này, nhưng lại vẫn thấy giá trị của chúng (p. 115), và việc cố giữ chúng sẽ tạo nên sự bất hòa trong nhà trị liệu.
SỰ ĐIỀU HƯỚNG TỪ NHÀ TRỊ LIỆU
Trong quá trình tìm hiểu vấn đề về cách thể hiện sự chân thật từ nhà trị liệu khi làm việc với cặp đôi/gia đình, ta sẽ tự nhiên đặt ra một câu hỏi là liệu phương pháp tiếp cận này có mất đi nền tảng phi điều hướng hay không khi nhà trị liệu quá tự do trong việc bộc lộ chính mình dưới danh nghĩa tính chân thật, hòa hợp.
Khi mô tả quá trình làm việc của mình với các gia đình, Wayne Anderson (1989) đã chia sẻ rằng đôi lúc ông sẽ tạo điều kiện để có thể “chuyển đổi góc nhìn” bằng việc lắng nghe quan điểm của một người về một vấn đề, phản hồi một cách thấu cảm, rồi sau đó hỏi về các góc nhìn khác trong cùng một vấn đề trên.
Ông nhận thấy điều này đã giúp cho các gia đình học được cách giao tiếp một cách trực tiếp hơn theo hướng xây dựng. Tương tự, bà Barbara Brodley đôi lúc cũng đã tạo dựng nên kiểu chuyển đổi trên trong công việc trị liệu cho cặp đôi của bà bằng việc hỏi một thân chủ là liệu họ có muốn hồi đáp lại khi đối phương nói chuyện hay không (Topping, 1993). Kiểu chuyển đổi này đến từ mong muốn của bà Brodley trong việc cho các cặp đôi tránh tình trạng bạo lực cảm xúc trong suốt quá trình trị liệu và cũng là để cân bằng việc sử dụng thời gian cũng như sự chênh lệch quyền lực giữa những cặp đôi. Thêm vào đó, bà Brodley đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp bằng cách đưa ra các phản ứng theo đúng định hướng mục tiêu trong các phiên trị liệu cặp đôi (Topping, 1993). Bà Brodley đã cảm nhận được sự quan trọng trong việc cả hai bên có đồng quan điểm về các chủ đề thảo luận vì cả hai người đều phải sẵn lòng lắng nghe người còn lại vào bất cứ khoảnh khắc nào để cuộc đối thoại trở nên đáng giá. Nếu hai bên không đồng lòng với nhau thì chủ đề đó sẽ không được nhắc lại trong phiên trị liệu đó.
Bà Margaret Warner (1986) đã thực hành cái mà bà gọi là ‘gia sư giao tiếp’ trong thực hành trị liệu gia đình của mình. Dựa trên công trình nghiên cứu về giao tiếp của Gorgon (1972), Rosenberg (1976) và Guerney (1977), bà Warner đã mời các thân chủ giải thích về các khía cạnh còn thiếu trong việc giao tiếp của họ để ‘gia tăng khả năng thấu hiểu và giải quyết vấn đề mang tính xây dựng trong quan hệ’ (1986: 24). Sau cùng, bà Warner cảm thấy rằng trải nghiệm tăng cường sự thấu cảm và khả năng giải quyết vấn đề sẽ xây dựng được niềm tin trong mối quan hệ, từ đó tạo điều kiện cho nỗ lực giao tiếp cởi mở về sau.
Warner (1993) cho rằng, mặc dù có sự khác biệt trong các phong cách trị liệu tâm lý, một mối quan hệ trị liệu và tiến trình trị liệu nhiều tương đồng vẫn sẽ hình thành giữa các nhà trị liệu có mức độ áp đặt tương đương nhau và có cùng quan điểm về việc nên đưa bao nhiêu yếu tố bên ngoài vào khung tham chiếu của thân chủ.
Nói cách khác, những hiện tượng trị liệu vô cùng giống nhau sẽ xảy ra khi các nhà trị liệu có mức độ can thiệp tương tự nhau; tức là họ đưa các yếu tố từ bên ngoài vào trong góc nhìn của thân chủ với cùng một mức độ.
Theo quan điểm của bà Warner, các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm có thể đưa thêm các ý niệm từ bên ngoài khung tham chiếu cá nhân của thân chủ vào mối quan hệ trị liệu mà không làm mất đi giá trị của sự phi điều hướng, miễn là nhà trị liệu có được một quan hệ thấu cảm sâu sắc với thân chủ, trình bày các ý niệm theo phương hướng mà thân chủ có thể dễ dàng lựa chọn việc không theo đuổi chúng, và giữ vững niềm tin rằng chính thân chủ sẽ là người kiểm soát quá trình trị liệu.
Tuy nhiên, bà đã đưa ra lời cảnh báo cần tránh việc tạo ra các điều kiện để cảm thấy xứng đáng với thân chủ khi giới thiệu các ý niệm trên. Nếu nhà trị liệu tiếp cận thân chủ với sự hiểu biết rằng con người bẩm sinh có khuynh hướng tự điều hướng trong suốt quá trình xử lý thông tin, tiến tới một quan hệ tích cực, và nếu họ củng cố các điều kiện như sự thấu cảm, nhìn nhận một cách tích cực vô điều kiện, và tính chân thật/hòa hợp, thì đó vẫn là phương pháp trị liệu thân chủ trọng tâm, dù cho có sự khác biệt trong phong cách.
Theo bà Brodley (1993), có một sự lầm tưởng về thái độ tự điều hướng đó là nhà trị liệu phải cố gắng để tránh nói ra bất cứ điều gì từ khung tham chiếu cá nhân của chính họ. Trái lại, bà Brodley cho rằng biểu hiện sâu sắc nhất của thái độ phi điều hướng có thể chính là việc đưa ra những phản hồi từ chính khung tham chiếu của nhà trị liệu khi được yêu cầu, như một cách để tôn trọng ý muốn của thân chủ (tr. 141). Brodley và Brody (1994) nhận định rằng ta có thể sử dụng các kỹ thuật trong trị liệu thân chủ trọng tâm, miễn là ta không tiếp cận chúng từ tư duy chẩn đoán. Có nghĩa là, một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm không được đưa ra các kỹ thuật từ vị thế của một người biết rõ điều gì là tốt nhất cho thân chủ hay xác định cái gì là không đúng với thân chủ và quyết định những gì mà họ cần phải làm để trở nên tốt hơn. Tuy nhiên, một nhà trị liệu lấy thân thủ làm trọng tâm có thể đưa ra các kỹ thuật để phản ứng với các yêu cầu hay câu hỏi của thân chủ, miễn là chúng không gây cản trở khả năng của nhà trị liệu trong việc duy trì các điều kiện trị liệu thiết yếu như sự thấu cảm, sự quan tâm tích cực vô điều kiện, và tính chân thật khi làm như vậy.
Raskin (1988) dường như đồng ý với góc nhìn của Brodley và Brody (1994), cho rằng nhà trị liệu không nên để bản thân bị ràng buộc bởi các quy tắc trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, ông đã lưu ý rằng ta sẽ mắc phải sai lầm về thái độ một khi nhà trị liệu bắt đầu hình thành định kiến sẵn có trong việc làm thế nào để thay đổi được thân chủ, và hướng đến mục tiêu này theo một cách có hệ thống.
Ông đã giải thích rằng ta sẽ có một phạm vi mà trong đó các nhà trị liệu có thể thể hiện các điều kiện cốt lõi của liệu pháp thân chủ trọng tâm:
Nhà trị liệu có thể đi xa hơn, cả theo hướng tự phát và phi hệ thống, đưa ra các phản ứng, gợi ý, đặt câu hỏi, cố gắng hỗ trợ thân chủ trải nghiệm những cảm xúc, chia sẻ các diện mạo trong đời sống của họ, vân vân, đồng thời duy trì sự tôn trọng cơ bản và liên tục đối với thân chủ như là người điều hướng cho cả tiến trình. Đây có thể được xem là liệu pháp tập trung cá nhân ở mức độ tối ưu, khi một nhà trị liệu tự do trong tâm trí, chấp nhận xem thân chủ như người dẫn đường và đồng thời không bị bó buộc bởi các quy tắc (tr. 2).
Nghiên cứu trị liệu tâm lý ở thời điểm hiện tại khẳng định những gì đã được nêu lên bởi các nhà trị liệu và nhà nghiên cứu trường phái thân chủ trọng tâm từ 50 năm về trước và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay – rằng chất lượng mối quan hệ trị liệu được xây dựng giữa nhà trị liệu và thân chủ (đặc trưng bởi sự thấu cảm, quan tâm tích cực vô điều kiện, và sự chân thật) chính là nền tảng cho những kết quả tích cực trong trị liệu, thay vì bất cứ các kỹ thuật cụ thể nào hay trình độ chuyên môn của nhà trị liệu (Hubble, Duncan and Miller, 1999).
TÁI ĐỊNH HÌNH LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH VÀ CẶP ĐÔI THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Dưới đây là các hướng dẫn về cách bắt đầu tiếp cận và thực hiện liệu pháp gia đình và cặp đôi thân chủ trọng tâm, dựa trên tiến trình phát triển lịch sử được nhắc đến trong bài báo này cũng như 15 năm kinh nghiệm của tác giả khi làm việc với các cặp đôi và gia đình.
1. Điều kiện tiên quyết để thực hành trị liệu phi điều hướng với các cặp đôi và gia đình chính là bạn phải thấm nhuần một niềm tin mãnh liệt rằng, với vai trò là một nhà trị liệu, bạn sẽ không biết được những gì là tốt nhất đối với các cặp đôi và gia đình. Bạn không phải là một chuyên gia về những vấn đề cụ thể của họ, mặc dù bạn có thể có kinh nghiệm làm việc với những người khác cũng gặp phải vấn đề tương tự như họ; và bạn không nắm giữ chìa khoá thần kỳ để tháo gỡ hết được các vấn đề của họ, kể cả bạn có thể có những ý nghĩ hoặc quan điểm nào đó có thể giúp họ trong một tình huống cụ thể nếu được yêu cầu. Đồng thời, điều quan trọng là bạn cần phải toát ra được sự tự tin vào bản thân rằng bạn có thể đưa ra điều gì đó hữu ích, như một môi trường giúp các gia đình và cặp đôi có thể tự xác định các vấn để của họ, tìm ra các giải pháp và phát triển theo hướng quan trọng đối với họ. Đừng tỏ ra thiếu quyết đoán khi giải thích điều này cho các thân chủ của bạn, đặc biệt là khi họ đang lo ngại rằng bạn chẳng khác nào đang tự nhận rằng bạn không phải là một chuyên gia. Đã có rất nhiều trường hợp các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm lại tỏ ra có lỗi về những gì họ có thể cung cấp và điều này không nên xảy ra. Chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn với các cặp đôi và gia đình bằng cách sử dụng phương pháp phi điều hướng và điều này cần được ghi nhận mà không cần phải phô trương về nó.
2. Một khi cặp đôi và gia đình đã đến văn phòng của bạn, bạn có thể đưa ra một số hướng dẫn về quy định văn phòng, thời lượng của phiên trị liệu, phí trị liệu, và nhìn chung là cách mà bạn làm việc. Đã có nhiều gia đình đi trị liệu nhưng lại không biết chắc mình mong đợi những gì, và thường thì, họ kỳ vọng nhà trị liệu kiểm soát quá trình trị liệu. Bạn cần phải loại bỏ đi sự mơ hồ trên bằng việc nói rõ rằng bạn quan tâm đến việc lắng nghe góc nhìn của tất cả mọi người về lý do họ đến để trị liệu. Hãy cho các gia đình biết rằng bạn tin tưởng vào sự sáng suốt của họ như kim chỉ nam cho cách mà tiến trình trị liệu nên diễn ra. Một khi cặp đôi hoặc gia đình biết được rằng bạn quan tâm lắng nghe các suy nghĩ riêng của họ, các phiên trị liệu thường sẽ tiếp diễn một cách trôi chảy từ đó. Khi làm việc với gia đình, ta nên đặt câu hỏi cho các bậc phụ huynh trước khi bắt đầu rằng liệu họ có thể cho phép con em mình thoải mái chia sẻ tâm tư mà không lo sợ bị trừng phạt khi các bé nói đến những chuyện gây tranh cãi hay không. Điều này sẽ hỗ trợ việc xây dựng nên bầu không khí cởi mở và an toàn cho các trẻ thường cảm thấy bất lực trong gia đình. Trái lại, tôi nhận thấy rằng sẽ rất hữu ích nếu ta nhường lời cho phụ huynh trong phiên đầu tiên, như là một cách để tôn trọng họ. Thế nên, sau đôi lời giới thiệu ban đầu, tôi thường nói những câu như, ‘Cô Smith, cô có liên lạc với tôi và nói cho tôi biết là cô đang gặp phải một chút khó khăn với bé John là đứa con trai út của cô. Liệu cô có muốn bắt đầu bằng việc kể thêm cho tôi nghe về những nỗi bận tâm của cô không?’
3. Từ góc nhìn này, việc thấu cảm cũng sẽ giống như trong trị liệu cá nhân, nhưng sẽ có nhiều khung tham chiếu mà ta cần phải chú ý đến cùng lúc trong trị liệu cặp đôi và gia đình. Điều này sẽ gây ra sự khó khăn cho các nhà trị liệu nếu họ chưa từng làm việc với cặp đôi hay gia đình từ trước. Hãy ghi nhớ rằng bạn sẽ không thể đồng thời chú tâm vào tất cả mọi người hay mọi thứ. Bạn nên cho phép bản thân là một người bình thường và tập trung vào điều có vẻ cấp thiết nhất tại bất kỳ thời điểm nào. Chẳng hạn, khi cô Smith nêu ra các nỗi lo của mình, hãy chắc rằng bạn có thể hiểu được chính xác các nỗi lo đó. Việc này có thể trở nên phức tạp khi một thành viên khác trong gia đình cắt ngang cô Smith bằng lời nói hoặc bằng cách biểu hiện các phản ứng phi ngôn ngữ.
Khi nói đến việc cắt lời nói trên, tôi thường có xu hướng cho phép hành vi này xảy ra nhiều hơn trong thời gian đầu của việc trị liệu, vì tôi muốn nắm bắt được những sự việc gì đang diễn ra trong một bối cảnh rộng hơn của cặp đôi/gia đình. Đó là, họ đang có quan hệ với nhau ra sao, và họ có những phản ứng thế nào? Những khoảnh khắc ngắt lời tự phát trên có thể hỗ trợ đáng kể cho việc hiểu rõ được gia đình. Tuy nhiên, điều này cũng sẽ gây trở ngại khiến bạn không thể hoàn toàn chú tâm vào từng thành viên trong gia đình và bạn có thể sẽ cần phải kiểm soát nó. Khi việc cắt ngang lời nói tiếp diễn, bạn có thể nói với bé John út của gia đình rằng, ‘Bác biết là cháu có rất nhiều phản ứng với mẹ cháu và bác muốn hiểu được điều đó, nhưng trước tiên, cháu hãy để bác hiểu rõ được những mối lo ngại của mẹ cháu đã.’ Việc này sẽ thể hiện được sự tôn trọng đối với cả hai mẹ con và giúp cho tất cả các thành viên hiểu được rằng bạn muốn thấu hiểu được mọi góc nhìn và rằng mọi người đều sẽ có cơ hội để chia sẻ. Mặc dù đã rất nỗ lực để kiểm soát, các phản ứng tự phát từ các thành viên gia đình đôi khi sẽ mạnh đến mức bạn sẽ phải chú ý đến người ngắt lời trong một khoảnh khắc, và đồng thời vẫn phải nhớ rằng bạn cần quay trở lại với người mà bạn đang đối thoại dở dang. Bạn cũng cần phải để tâm đến các phản ứng phi ngôn ngữ. Do các phản ứng này không dùng đến lời nói, bạn sẽ dành thời gian để phản hồi và thấu hiểu người đang nói trước rồi sau đó mới nói chuyện với người biểu hiện hành vi phi ngôn ngữ. Bạn có thể nói là, ‘John này, bác có để ý thấy là cháu có phản ứng rất mạnh khi mẹ cháu nói chuyện, vậy cháu có muốn chia sẻ cảm giác của cháu không?’ Việc để tâm đến các hành vi phi ngôn ngữ chính là một hình thức thấu cảm mạnh mẽ, đặc biệt là đối với những thân chủ có sự miễn cưỡng trong việc nói chuyện và muốn được thấu hiểu theo những hướng tinh tế hơn. Từ đây, một số gia đình sẽ khá tự nhiên trong việc điều hướng phiên trị liệu, phản ứng với nhau một cách tự phát, bộc lộ các vấn đề và đưa ra các gợi ý. Như vậy, công việc trị của nhà trị liệu sẽ trở nên dễ dàng hơn. Bạn cần phải để tâm đến nhiều khung tham chiếu cá nhân khác nhau và đưa ra các phản ứng thấu hiểu khi cần, đồng thời duy trì các điều kiện trị liệu cần thiết khác. Đôi lúc, bạn có thể sẽ cần phải xây dựng trật tự bằng việc tạo ra các không gian để mọi người nói chuyện mà không bị cắt ngang (chẳng hạn, ‘Mary này, bác biết là cháu rất muốn nói chuyện. Một lát nữa là bác sẽ nói chuyện với cháu nhé.’) hoặc bạn có thể sẽ cần tạo cơ hội nói chuyện cho các thành viên trầm tính hơn (chẳng hạn, ‘Tom này, bác với gia đình vẫn chưa được nghe cháu nói gì hết và bác không biết là liệu cháu có muốn chia sẻ về vấn đề này không).
Khi các gia đình trở nên bị động và dè dặt hơn trong việc đối thoại, đôi lúc tôi sẽ điều hướng phiên trị liệu theo một hướng khác đi. Việc cho phép sự im lặng diễn ra rất quan trọng, đặc biệt là sau khi bạn đã trình bày một số hướng dẫn chung về cách thức làm việc của bạn, từ đó loại bỏ đi những mơ hồ vốn có thể là căn nguyên cho thái độ dè dặt của họ. Bạn cũng có thể nói về sự miễn cưỡng của họ khi nói chuyện và thường thì, một thành viên nào đó sẽ phá vỡ sự im lặng, đặc biệt là khi bạn cho thấy bạn đang chú tâm tới với sự lo âu đang hiện diện. Thêm vào đó, do bạn có được lợi ích từ sự hiện diện của những người có thể là chủ đề của cuộc bàn luận, bạn có thể tận dụng cái mà Thayer gọi là ‘chuyển dịch góc nhìn’ khi các thành viên gia đình tỏ ra quá khách sáo hoặc không phản ứng tự nhiên. Chẳng hạn, ta có thể nói là ‘John này, mẹ cháu có nói là mẹ thấy rất lo lắng cho cháu vì cháu hay vướng vào các vụ ẩu đả trong thời gian gần đây – liệu cháu có muốn nói chuyện với mẹ cháu không?’ Hoặc là, ‘John này, mẹ cháu cảm thấy là cháu đang ý định làm tổn thương mẹ cháu, cháu thấy thế nào về chuyện này?’ Nói như vậy sẽ khuyến khích tiếng nói của gia đình và các thành viên hoàn toàn có thể lựa chọn không chia sẻ điều gì. Một số người ban đầu sẽ cần phải có lời gợi mở mới có thể lên tiếng, và họ sẽ sớm nhận thấy rằng họ hoàn toàn tự do chia sẻ nếu muốn về sau.
4. Sự quan tâm tích cực vô điều kiện hiện cho đến nay vẫn là một điều kiện về mặt thái độ tối quan trọng để làm việc với gia đình và cặp đôi một cách hiệu quả. Việc truyền đạt lại một thái độ nhiệt thành và tôn trọng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với gia đình và cặp đôi, giúp họ cảm thấy đủ an tâm để bày tỏ những sự việc đang xảy ra với họ. Chuyện này đôi lúc có thể diễn ra một cách dễ dàng nhưng đôi lúc cũng có thể sẽ rất khó khăn, đặc biệt là khi bạn không nhất thiết phải có thái độ nhiệt thành và tôn trọng đối với những người tham gia phiên trị liệu. Như Rogers đã nêu, sự quan tâm tích cực vô điều kiện là một thái độ mà ta luôn nỗ lực hướng đến, nhưng thường lại không đạt được một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, khi làm việc với các cặp đôi gặp phải vấn đề bạo lực gia đình, tôi đã bị dày vò bởi những cảm giác ghê tởm hay khó ưa đối một số người. Tuy nhiên, nếu tôi có thể thừa nhận những cảm giác đó từ bên trong bản thân tôi (tính chân thật), thì thường tôi sẽ có khả năng tạm thời gác lại những cảm xúc đó và tập trung vào cặp đôi/gia đình. Khi làm như vậy, tôi thường khám phá ra được rằng một số phẩm chất đáng quý ở thân chủ mà tôi từng phán xét, và điều này phần nào giúp tôi cân bằng lại được các phản ứng tiêu cực hơn của bản thân.
5. Sự chân thật/hòa hợp (trong ngoài) là một điều kiện đã được nhắc đến trong chương này, nhưng tôi sẽ đi sâu giải thích về nó hơn nữa. Sự chân thật là một điều kiện bén rễ từ phía nhà trị liệu – đó là nhận thức được các phản ứng cá nhân và những cảm xúc trong từng khoảnh khắc trong trị liệu mà ta không nhất thiết phải bộc lộ ra trước thân chủ. Điều kiện trên có nghĩa là bạn không nên che giấu bản thân mình hoặc lừa dối họ về việc bạn là ai dưới tư cách một con người. Bạn không nhất thiết phải chia sẻ về cảm xúc hay quá khứ của mình, mà chỉ đơn thuần là ý thức và thừa nhận những cảm xúc nội tâm và có thể nói ra với họ khi được yêu cầu hoặc nếu buộc phải làm như vậy. Khi thỏa được điều kiện trên, bạn sẽ thấy dễ dàng hơn rất nhiều trong việc kiểm soát các phản ứng cá nhân với vai trò là nhà trị liệu. Thêm vào đó, trong trường hợp tôi cảm thấy mình có ý muốn khoác lên mình chiếc mặt nạ chuyên nghiệp, tôi sẽ cố gắng nhìn sâu vào nội tâm để xem điều gì đang thực sự xảy ra với mình trong khoảnh khắc đó. Thông thường, đó là một dạng của sợ hãi hoặc lo âu liên quan đến thân chủ mà tôi cần phải tìm hiểu thêm khi tham vấn các đồng nghiệp sau đó.
Như đã bàn luận ở trong chương, ta sẽ gặp phải những khoảnh khắc khi các thân chủ của bạn đòi hỏi nhiều thứ hơn từ bạn. Họ có thể đặt ra cho bạn các câu hỏi trực tiếp về cách thức dạy dỗ con cái, cải thiện hôn nhân, hoà giải các xung đột, gia tăng đam mê, cách dàn xếp thoả hiệp trong tất cả các vấn đề khác nhau. Khi bạn cảm thấy rằng dù cho bản thân đang có một ý kiến rất mạnh mẽ, bạn vẫn có thể nói ra ý kiến đó, miễn là nó được đưa ra dựa trên tinh thần của một người không phải là chuyên gia. Ý kiến của bạn có thể bắt nguồn từ trải nghiệm cá nhân, kinh nghiệm làm việc với các cặp đôi/gia đình hoặc các ấn phẩm mà bạn đã đọc được, nhưng đây không nhất thiết phải là những gì hữu ích cho họ, nó chỉ đơn thuần là ý kiến của bạn mà thôi.
Tình huống phức tạp hơn là khi thân chủ không hề yêu cầu được biết đến quan điểm của bạn nhưng dù vậy bạn vẫn có điều gì đó thôi thúc bạn đưa ra ý kiến hay gợi ý của mình. Để làm được điều này từ góc nhìn phi điều hướng, nhà trị liệu cần phải thực hiện nó với thái độ phi điều hướng từ sâu bên trong. Như vậy, bạn sẽ không thể có lợi ích riêng trong các sự lựa chọn mà các gia đình hay cặp đôi đưa ra – bạn phải thực sự tin vào những gì mà thân chủ thấy là phù hợp nhất đối với họ. Với thái độ này, việc chia sẻ các phản ứng tự nhiên, phi hệ thống có thể sẽ trở thành một công cụ trị liệu rất hiệu quả.
Là người đã từng làm việc nhiều với những thân chủ bị lạm dụng tình dục lúc còn nhỏ, và những thân chủ đồng tính, bản thân tôi thường có những phản ứng mà tôi mong muốn được chia sẻ khi làm việc với các cặp đôi/gia đình gặp phải những vấn đề tương tự. Chẳng hạn, một người trong mối quan hệ yêu đương có thể sẽ nhắc đến hay ám chỉ về việc mình từng bị xâm hại tình dục thời còn nhỏ mà không muốn phơi bày tất cả. Nếu như cặp đôi này đang gặp phải các vấn đề về mặt tình dục mà họ không thể hiểu được, trong khi cả hai người đều không liên hệ nó với sang chấn tình dục, khả năng cao là tôi sẽ đặt câu hỏi về điều đó và nói ra một số cảm nhận của mình vì sao nó có liên quan. Trong một tình huống khác, tôi có làm việc với một cặp đôi đồng tính nam cảm thấy rằng họ thường xuyên nổi nóng và tức giận với nhau mà không có lý do rõ ràng. Trong trường hợp này, cặp đôi có thể nhờ đến bạn để được tư vấn.
Tại thời điểm này, tôi có thể sẽ đặt ra các câu hỏi về lịch sử yêu đương của cả hai người họ, tức là liệu họ đã công khai xu hướng tính dục của mình cho cả hai bên gia đình hay chưa, hay liệu họ đang phải đối mặt với sự kì thị hay bất công có liên quan ở nơi làm việc, chỗ ở hay cộng đồng mà họ sinh sống hay không. Có thể tôi cũng cảm nhận rằng một hoặc cả hai mang đều mắc hội chứng tự kì thị đồng tính, dẫn đến cảm giác xấu hổ, tội lỗi và bực tức, rồi trút lên nhau. Đây đều là những vấn đề có thể thăm dò một cách thận trọng, hoặc khi được yêu cầu ý kiến, hoặc khi bạn cảm giác có vấn đề nào đó đang tồn tại mà vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Điều quan trọng ở đây chính là tránh không tuân theo một công thức trong những tình huống trên hay bất cứ những tình huống nào khác mà khi đó bạn có một linh cảm hay phản ứng mãnh liệt. Hãy thấm nhuần thái độ phi điều hướng và duy trì niềm tin của chính bản thân bạn về khuynh hướng hiện thực hóa. Làm như vậy, các lời khuyên, câu hỏi và gợi ý mà bạn đưa ra khả năng cao sẽ được ứng dụng một cách đúng đắn và có thể sẽ rất hữu ích đối với các thân chủ của bạn. Đối với những ai không có đủ tự tin trong việc tin vào khuynh hướng hiện thực hóa và thái độ phi điều hướng, hãy hạn chế các rủi ro trong trị liệu cho đến khi bạn thấm nhuần triết lý này hơn. Bạn vẫn có thể đạt được sự hiệu quả trong công việc ngay cả khi không có kinh nghiệm tích luỹ để thúc đẩy việc vận dụng thái độ phi chỉ dẫn ở mức độ cao hơn trong trị liệu cặp đôi/gia đình.
6. Cuối cùng, hãy để cho các cặp đôi/gia đình tự quyết định xem hướng đi cuối cùng nào tốt nhất cho họ. Theo thông lệ, giai đoạn này sẽ đến một khi vấn đề đang hiện diện được giải quyết hay ta thấy đã thay đổi đủ nhiều. Với vai trò là người trị liệu, bạn có thể đặt ra câu hỏi về việc liệu một cặp đôi/gia đình đã giải quyết được tình trạng của họ hay chưa nếu như bạn cảm thấy là họ có khả năng đó. Tuy nhiên, sẽ có nhiều cặp đôi/gia đình mong muốn được tiếp tục tham gia trị liệu dưới tần suất thấp hơn để duy trì sự ổn định của họ. Đây là một việc đáng khuyến khích nếu như họ cảm thấy dễ bị tổn thương trước nguy cơ có thể mất đi thành quả đạt được hay họ có xu hướng dễ gặp khủng khoảng và cần được tiếp tục cải thiện các kỹ năng giao tiếp và giải quyết vấn đề.
(*): Chương này được viết dựa rất nhiều vào luận án chưa được công bố của tác giả: McPherrin JK (1995) ‘Trị liệu Cặp đôi và Gia đình Thân chủ Trọng tâm: Khi làm dụng tình dục là một vấn đề’. Luận án chưa được công bố đã được nộp cho Illinois School of Professional Psychology để đáp ứng một phần các yêu cầu để lấy bằng Tiến sĩ Tâm lý học.
Quang Thái dịch, ThS. Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính
(bài viết là một chương trong quyển sách “Embracing Non-Directivity” của tác giả Brian E. Levitt)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderson WJ (1989) Family therapy in the client-centered tradition: A legacy in the narrative
mode. Person-Centered Review, 4(3), 295-307.
Bergin AE (1967) Some implications of psychotherapy research for therapeutic practice.
International Journal of Psychiatry, 3, 136-50.
Bozarth JD & Brodley BT (1991) Actualization: A functional concept in client-centered therapy.
In A Jones & R Crandall (Eds) Handbook of self-actualization. Special issue of The Journal of Social Behavior and Personality, 6(5), 45-59.
Bozarth JD & Shanks A (1989) Person-centered family therapy with couples. Person-Centered
Review, 4(3), 280-94.
Brodley BT (1993) Response to Patterson’s ‘Winds of change for client-centered counseling.
Journal of Humanistic Education and Development, 31(3), 139-43.
Brodley B & Brody A (1994) Can one use techniques and still be client-centered? Paper presented
at the International Client-Centered Conference in Vienna, Austria.
Gaylin NL (1989) The necesary and sufficient conditions for change: Individual versus family therapy. Person-Centered Review, 4(3), 263-79. Reprinted in NL Gaylin (2001) Family, Self and Psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 10G-14.
Gaylin NL (1990) Family-centered therapy. In G Lietaer, J Rombauts & R Van Balen (Eds) Client-Centered and Experiential Psychotherapy in the Nineties. Leuven: Leuven University Press, pp. 813-28. Reprinted as ‘Family Therapy Process in NL Gaylin (2001) Family, Self and Psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 115-29.
Gordon T (1972) Parent-Effectiveness Training. New York: Wyden.
Guerney BG (1977) Relationship Enhancement. San Francisco: Jossey-Bass.
Hubble M, Duncan B & Miller S (1999) The Heart and Soul of Change: What works in therapy.
Washington, DC: American Psychological Association.
Levant RF (1978) Family therapy: A client-centered perspective. Journal of Marriage and Family
Counseling, 4(b), 35-42.
Levant RF (1982) Client-centered family therapy. American Journal of Family Therapy, 10(2),
72-5.
Levant RF (1984) From person to system: Two perspectives. In RF Levant & JM Shlien (Eds) Client-Centered Therapy and the Person-Centered Approach: New directions in theory, research, and practice. New York: Praeger, pp. 243-60.
O’Leary CJ (1989) The person-centered approach and family therapy: A dialogue between two traditions. Person-Centered Review, 43), 308-23. Reprinted in DJ Cain (Ed) (2002) Classics in the Person-Centered Approach. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 191-9.
Raskin NJ (1988) Responses to person-centered vs. client-centered. Renaissance, 5(3-4), 2-3.
Raskin NJ & van der Veen F (1970) Client-centered family therapy: Some clinical and research perspectives. In JT Hart & TM Tomlinson (Eds) New Directions in Client-Centered Therapy.
Boston: Houghton Mifflin, pp. 387-406.
Rogers CR (1957) The necessary and sufficient conditions of therapeutic personality change.
Journal of Consulting Psychology, 21, 95-103.
Rogers CR (1959) A theory of therapy, personality, and interpersonal relationships as developed in the client-centered framework. In S Koch (Ed) Psychology: A study of science: Formulations of the person and the social context. New York: McGraw-Hill, pp. 184-256.
Rogers CR (1980) A Way of Being. Boston: Houghton Mifflin.
Rombauts ] & Devriendt M (1990) Conjoint couple therapy in client-centered practice. In G Lietaer, J Rombauts & R Van Balen (Eds) Client-Centered and Experiential Psychotherapy in the Nineties. Leuven: Leuven University Press, pp. 847-63.
Rosenberg MB (1976) From Now On. St. Louis, MO: Community Psychological Consultants.
Thayer L (1982) A person-centered approach to family therapy. In A Horne & M Olsen (Eds)
Family Counseling and Therapy. Itasca, IL: FE Peacock, pp. 175-213.
Topping CJ (1993) An equal prizing: Couple therapy from a client-centered perspective. An unpublished dissertation submitted to the University of Georgia in partial fulfillment of the requirements for the degree of doctor of philosophy.
Truax CB & Carkhuff RR (1967) Toward Effective Counseling and Psychotherapy: Training and
practice. Chicago: Aldine.
Truax CB & Mitchell KM (1971) Research on certain therapist interpersonal skills in relation to process and outcome. In AE Bergin & S Garfield (Eds) Handbook of Psychotherapy and Behavior Change. New York: Wiley, pp. 299-344.
Warner MS (1986) On coaching communication: Trust in the family system. Unpublished Draft.
Warner MS (1993) Levels of intrusiveness: A framework for considering the integration and
differentiation of styles of psychotherapy. Unpublished Draft.
-
Tác giả: Gabrielle Nabim, Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình được cấp phép, Thạc sĩ chuyên ngành Công tác Xã hội, Cử nhân Xã hội học được cấp phép

Hiện nay chúng ta có vô vàn các mô hình trị liệu dành cho các cặp đôi, mỗi mô hình được phát triển dựa trên một tập hợp các giả định mang tính triết học góp phần định hình cách chúng được áp dụng trong lĩnh vực lâm sàng. Các nhà trị liệu thường không khỏi thấy choáng ngợp trước sự đa dạng trong các liệu pháp mà họ có thể tận dụng như một nền tảng để làm việc với các cặp đôi, và có lẽ họ cũng nhận ra chính bản thân họ đang tùy ý lựa chọn một liệu pháp phổ biến và tham gia các khóa đào tạo về nó mà không hoàn toàn nắm bắt được sự khác biệt của nó so với các liệu pháp chủ đạo khác. Bởi vì các phương thức trên có thể khác xa nhau về mặt nền tảng lý thuyết, đặc tính, và các kỹ thuật, ta nên tiến hành một vài nghiên cứu so sánh trước khi đầu tư mọi thứ cho một chứng chỉ, thứ có thể là một quá trình khá tốn kém đòi hỏi nhiều cấp độ năng lực khác nhau. Chẳng hạn, chúng ta không nên chọn một phương thức dựa trên thực nghiệm để làm việc với các cặp đôi rồi sau đó mới nhận ra rằng liệu pháp dựa trên hành vi lại phù hợp hơn với các quan điểm và triết lý của bản thân. Với mong muốn đơn giản hóa quá trình lựa chọn của các nhà trị liệu mới vào nghề, trong bài viết này, tôi sẽ bàn về ba liệu pháp được ứng dụng rộng rãi ngày nay bởi các chuyên gia về sức khỏe tâm lý: Liệu pháp Mối quan hệ Imago (Imago Relationship Therapy – IRT), Liệu pháp Cặp đôi theo phương pháp Gottman (Gottman Method Couples Therapy), và Liệu pháp Cặp đôi Tập trung cảm xúc (Emotionally Focused Couples Therapy – EFCT hoặc EFT). Các liệu pháp này tuy đều có các nền móng khác nhau, nhưng cũng có một số điểm tương đồng bất ngờ. Cũng giống như khung cảnh một cây táo, cây cam và cây anh đào đứng kế nhau trong một khu vườn, khi mỗi cây đều có sự khác biệt về kiểu dáng và hương vị đối với những người thưởng thức quả của chúng, ta vẫn có thể sẽ thấy được những không gian, nơi mà các cành của mỗi cây len lỏi vào nhau. Những điểm giao nhau trên có thể được ví như các mục tiêu bao quát của việc trị liệu cho các cặp đôi: củng cố sự gắn kết, thân mật, và giao tiếp.

Liệu pháp Mối quan hệ Imago (IRT) chủ yếu là một phương pháp tâm động học trong trị liệu tình yêu. Harville Hendrix, người đã phát triển ra liệu pháp trên cùng với vợ là bà Helen LaKelly trong những năm 1970 và 1980, đã được trao bằng tiến sĩ trong lĩnh vực Tâm Lý và Thần Học tại Đại học Chicago và đã được đào tạo theo truyền thống phân tâm học. Các khái niệm về tâm động học xuất hiện tràn ngập trong các học thuyết của ông về các mối quan hệ và hiện đang là yếu tố quan trọng nhất trong việc định hình nên mô hình IRT. Từ imago thực chất là thuật ngữ mà Hendrix vay mượn từ nhà tâm thần học Carl Jung, người đã đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ trên trong quyển Tuyển tập các tác phẩm (Collected Works) của ông: “Sự biểu tượng hoá bên trong về giới tính đối lập”. Tuy nhiên, nếu ta cho rằng IRT chỉ là sản phẩm của mỗi hệ thống phân tâm học thôi thì có nghĩa là ta đã phủ nhận đi việc nó đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các truyền thống khác như thế nào. Trước khi ông Hendrix trở thành một nhà tâm lý học, ông đã từng đảm nhiệm công việc của một giáo sĩ trong nhà thờ Cơ Đốc giáo, và rõ ràng truyền thống Kitô giáo vừa là nguồn cảm hứng, vừa là phương tiện ẩn dụ cho trong các công trình của ông Hendrix, cũng giống như khi ông bàn về sứ mệnh của mỗi người trong việc đi tìm một quan hệ yêu đương thân thiết mà ông gọi là “con đường tâm linh”. Hendrix đã tiếp nhận sự ảnh hưởng từ các nhà tư tưởng về tinh thần như Martin Buber, và các nhà tâm lý học Carl Jung, Kurt Lewin, và Frank Ernst. Các nghiên cứu đột phá trong lĩnh vực khoa học hành vi cũng đã có sự ảnh hưởng đến học thuyết tương đối của ông. Để tóm lược chính xác về IRT, nó là sự kết hợp giữa nhiều kiến thức dựa trên lý thuyết từ nhiều hệ thống tâm lý và tinh thần học của phương Tây và gói gọn chúng lại thành một học thuyết tổng quát về các mối quan hệ tình cảm quan trọng nhất.
Mặt khác, phương pháp trị liệu tình yêu của nhà tâm lý học John Gottman lại có nền tảng đơn thuần là các nghiên cứu cơ bản. Gottman đã được trao bằng thạc sĩ ngành toán học tại đại học MIT và sau đó tiếp tục theo đuổi và có bằng tiến sĩ trong ngành Tâm lý học Lâm sàng tại Đại học Wisconsin. Trong những năm đầu ông đảm nhiệm công việc của một nhà tâm lý học, mối quan hệ giữa các cặp đôi chưa từng được nghiên cứu theo bất kỳ một phương pháp khoa học nghiêm ngặt nào. Cộng tác với đồng nghiệp của mình là Robert Levenson, ông Gottman đã bắt tay vào việc ghi âm lại các cuộc nói chuyện giữa các cặp đôi, phân tích các đoạn băng ghi âm để tìm ra các đặc điểm tương tác giúp ta dự đoán được sự thành công của các mối quan hệ lâu dài. Vào năm 1986, ông đã chuyển đến Đại học Washington tại thành phố Seattle và tiếp tục làm việc cùng với vợ của mình là Julie Gottman để củng cố hiểu biết của ông về bản chất của các mối quan hệ đối tác giữa các cặp đôi. Trong suốt hơn 30 năm trở lại đây, ông Gottman đã tiến hành ít nhất bảy cuộc nghiên cứu phi can thiệp với hơn 700 cặp đôi khác giới và đồng giới. Do các cuộc nghiên trên được tiến hành trong thời gian lâu dài, ông Gottman đã có thể tìm ra được các đặc điểm giúp ta dự đoán được sự lâu bền và sự hài lòng trong các mối quan hệ kéo dài suốt cuộc đời, đi từ giai đoạn kết hôn cho đến những sự chuyển biến lớn trong cuộc đời như thời làm cha mẹ, thời trung niên, và thời nghỉ hưu. Phần nhiều các phát hiện quan trọng của ông Gottman về cách thức mà các cặp đôi thỏa hiệp với nhau khi gặp mâu thuẫn đều xuất phát từ phòng thí nghiệm thiết kế đặc biệt trong căn hộ, được gọi là “Phòng thí nghiệm Tình yêu”, nơi mà những tương tác giữa các cặp đôi sẽ được ghi lại vào băng hình và các phản ứng sinh lý của họ sẽ được theo dõi. Ông Gottman đã nhận thấy rằng, giữa nhiều yếu tố khác nhau, sự bất ổn trong các mối quan hệ có mối liên hệ mật thiết với sự leo thang trong các cảm xúc tiêu cực hay các mâu thuẫn tiêu cực giữa hai người. Sự leo thang này có thể bắt nguồn từ sự hiện diện của bốn đặc điểm tương tác mà ông Gottman gọi ví von là “Tứ Kỵ Sĩ Khải Huyền”, bao gồm: phê phán, né tránh, chống đối, và khép lòng. Khi các “kỵ sĩ” trên bắt đầu hiện diện trong một mối quan hệ, các cảm xúc tích cực sẽ có sự suy giảm. Ông Gottman đã chỉ ra rằng cảm xúc tiêu cực sẽ có mặt trong tất cả các mối quan hệ, nhưng trong các quan hệ bền vững và lành mạnh thì yếu tố trên sẽ được cân bằng thông qua cảm xúc tích cực và nỗ lực hàn gắn, mà ta có thể xem là nỗ lực của các cặp đôi trong việc giảm leo thang xung đột. Do vậy, liệu pháp của ông Gottman sẽ chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ các cặp đôi điều tiết các cảm xúc. Ông Gottman đã đặt ra các nguyên tắc để giúp các cặp đôi thực hành khi họ có mong muốn được “ấm cửa yên nhà”. Các nguyên tắc trên sẽ bao gồm việc bộc lộ tình cảm và sự tôn trọng trong những khoảnh khắc nhỏ trong đời thường, hồi đáp lại các nhu cầu gắn kết cảm xúc của mỗi người, và xây dựng nên một hệ thống ý nghĩa chung thông qua việc đặt ra các nghi thức kết nối mang tính trang trọng và thường nhật.
Trong khi liệu pháp Gottman bắt nguồn từ các nghiên cứu học thuật, IRT có nền tảng nền tảng lý thuyết và phương pháp luận của phân tâm học, thì EFT lại là sự kết hợp mang tính hậu hiện đại giữa phương pháp hệ thống tương tác/gia đình và liệu pháp trải nghiệm/Gestalt. Quan trọng hơn hết, sự kết tinh độc đáo về lý thuyết trong liệu pháp này chính là nhờ vào lý thuyết gắn bó. Tiến sĩ Susan Johnson, người đã phát triển nên liệu pháp này qua quá trình làm việc với các cặp đôi tại Đại học British Columbia trong đầu những năm 1980, đã nhận thấy rằng ta có thể nắm bắt được các sự vận động trong các mối hệ yêu đương ở người trưởng thành khi nhìn nhận và giải thích chúng dưới lăng kính các nguyên tắc về sự gắn bó. Những người bạn đời sẽ được xem như là các chủ thể gắn bó chính, trong khi những sự đe dọa đến mối liên kết giữa họ (tức là sự phản bội về tình cảm hoặc thể xác) sẽ có khả năng gây ra sự phiền muộn nghiệm trọng trong quan hệ. Các biến cố trên, hay còn gọi là “những tổn thương trong gắn bó”, có thể được xem như là các sang chấn trong vòng đời của một mối quan hệ. Cảm xúc chính là khái niệm trọng tâm trong EFT vì nó được xem như là một nguồn cung cấp thông tin về các nhu cầu, mục tiêu, và động lực. Một nhà trị liệu đi theo EFT sẽ hỗ trợ các thân chủ của họ trong việc giải quyết và bộc lộ ra các cảm xúc then chốt, và đây sẽ là một quá trình có liên quan đến việc phân tích các cảm xúc hồi đáp mang tính tiêu cực như nóng giận và liên kết chúng các cảm xúc ít được quan tâm đến như sợ hãi và vô vọng. EFT là một liệu pháp độc đáo trong việc tránh sự bệnh lý hóa các nhu cầu phụ thuộc ở người lớn, và trên tinh thần đó, một con người sẽ không bao giờ được xem là quá lệ thuộc hoặc quá tự lập. Sự gần gũi với một chủ thể gắn bó là người lớn (bạn đời) sẽ là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe tâm lý, và cùng với đó, sự hạnh phúc và tự lực sẽ sự liên kết mật thiết với nhau về mức độ an toàn mà một cá nhân có thể cảm nhận được trong mối quan hệ gắn bó chủ đạo của họ.
Các ví dụ điển hình
Để minh họa cho ba liệu pháp chủ đạo cho các cặp đôi, chúng ta hãy nhìn vào một mối quan hệ đang gặp nhiều trắc trở. Ông Ameen (54 tuổi) và bà Karen (48 tuổi) đã kết hôn với nhau được chín năm. Đối với cả hai người họ thì đây chính là cuộc hôn nhân lần thứ hai. Mối quan hệ của họ rất viên mãn cho đến khi người chị của ông Ameen, sinh sống ở vùng Trung Đông, đến thăm nhà trong một thời gian dài. Sự nhiệt tình và chu đáo của ông Ameen đối với người chị của mình, cùng với những bất đồng văn hóa giữa bà Karen và người chị chồng, đã tạo ra một vết rạn nứt trong tình cảm giữa ông Ameen và bà Karen. Theo nhận định của họ thì khoảng cách tình cảm giữa hai người đang ngày càng lớn dần, và đi cùng với đó là các cuộc cãi vã căng thẳng trước các vấn đề nhất định, chẳng hạn như việc ông Ameen nói chuyện với chị của mình bằng tiếng mẹ đẻ, khiến cho bà Karen cảm thấy như bị “ra rìa”. Theo như bà Karen, những thói quen vụn vặt ngày thường họ từng chia sẻ cùng nhau thì giờ đây đã không còn nữa và điều này khiến cho bà cảm thấy bị “bỏ rơi trong hôn nhân”. Về phần mình, ông Ameen cho rằng mình phải làm việc trong nhiều giờ và ông có nghĩa vụ phải dành nhiều thời gian nhất có thể cho người chị của mình, đặc biệt là khi chị đã phải lặn lội từ một nơi xa xôi để đến thăm người nhà, chưa kể ông cũng không thể biết được rằng liệu mình có còn dịp nào khác để được gặp lại chị mình hay không. Trong cả bài viết này, chúng ta sẽ lấy trường hợp của bà Karen và ông Ameen để minh họa cho phương hướng mà việc trị liệu có thể đi đến dưới cái nhìn tổng quát của ba liệu pháp nêu trên.
Hình thức/Kết cấu của Trị liệu
IRT, EFT, và liệu pháp Gottman đã được thiết kế để trở thành các phương pháp can thiệp tương đối có tính hệ thống và có giới hạn về mặt thời gian. Ngay cả IRT, với nền tảng là phân tâm học, cũng không bao giờ đặt ra một quá trình trị liệu dài lê thê và vô tận. Ông Hendrix đã đặt ra một khoảng thời gian tối thiểu là từ 10 đến 12 tuần cho một liệu trình IRT đầy đủ, bắt đầu từ việc các cặp đôi định nghĩa được “tầm nhìn về mối quan hệ” của họ. Việc này sẽ giúp họ suy nghĩ về kiểu mối quan hệ mà họ muốn có được, dời sự chú tâm của họ từ những thất vọng trong quá khứ sang một tương lai đầy hy vọng hơn. Chẳng hạn, bà Karen có thể mường tượng ra một mối quan hệ phản chiếu lại “những chuyện đã từng xảy ra, tựa cái thời mà cuộc sống chỉ có hai người”. Mối quan hệ này có thể bao gồm các thói quen như “dùng bữa cùng nhau trên hiên nhà vào mỗi sáng” và các lý tưởng không được xác định rõ ràng kiểu “gắn kết với nhau hơn”. Tầm nhìn về mối quan hệ của ông Ameen có thể có sự tương đồng với bà Karen, hoặc cũng có thể có sự khác biệt rất lớn. Dù là trường hợp nào đi chăng nữa, nhà trị liệu IRT sẽ hỗ trợ ông Ameen và bà Karen trong việc đưa ra được một tầm nhìn chung mà cả hai ông bà đồng thuận là có thể đáp ứng được mong muốn của họ. Tiếp theo đó, hai ông bà sẽ đặt ra một Thỏa thuận Cam kết mà họ phải cam đoan rằng sẽ không tách ra ở riêng hay ly hôn trước khi hoàn thành toàn bộ liệu trình. Tại thời điểm này, họ trải qua quá trình “hạn chế các lối thoát của họ”. Theo thuật ngữ IRT thì đây có nghĩa là việc cả hai bên đánh giá về các cách mà họ né tránh lẫn nhau và quyết định xem họ sẽ sẵn sàng từ bỏ các cách trốn tránh nào. Chẳng hạn, một trong các cách né tránh của ông Ameen là sau khi tan làm trở về nhà, ông thường bật tivi lên xem ngay lập tức thay vì nói chuyện phiếm với bà Karen. Nhà trị liệu IRT sẽ giúp ông Ameen tích cực đánh giá xem ông dốc tâm sức cho hoạt động này ra sao và liệu ông có sẵn sàng từ bỏ hoạt động trên để củng cố sự gắn kết của ông với bà Karen. Sau giai đoạn đầu tiên của trị liệu, bà Karen và ông Ameen sẽ trải qua 18 bài thực hành để hai ông bà nắm bắt được những vụn vỡ, những vết thương lòng cụ thể từ thuở nhỏ và các cách đối mặt với chúng; xây dựng nên các cảm giác an toàn và tin tưởng trong quan hệ; giải tỏa sự căng thẳng; đồng cảm với nhau hơn; và củng cố sự thân mật và xoa dịu lẫn nhau. Hầu hết các bài thực hành trong IRT đều được phát triển để trở thành các hoạt động có tính hợp tác, tuy nhiên, một số ít bài thực hành sẽ cần thân chủ phải tự nhìn nhận lại chính mình và mỗi thân chủ có thể phải thực hiện riêng lẻ. Ta cần lưu ý rằng mục đích thực sự của ông Hendrix là hỗ trợ các cặp đôi hiểu rõ được động lực về nguồi cội gia đình mà có thể có mối liên hệ với các đặc điểm tương tác trong mối quan hệ của họ. Sự chú trọng vào sự thấu hiểu tạo ra sự khác biệt lớn so với EFT và phương pháp Gottman, những liệu pháp chủ yếu mang tính “ngay tại đây và ngay bây giờ” và tập trung vào các trải nghiệm hiện tại để tạo ra sự tương tác an toàn về mặt cảm xúc. Tuy nhiên, dù có tính chất “hướng về sự thấu hiểu”, IRT cũng sẽ phần nào phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận hành vi trên một góc độ nhất định, hướng dẫn các cặp đôi thể hiện tình cảm với nhau nhiều hơn để tạo luồng cảm xúc tích cực và thắp lại lửa cho mối quan hệ.
Bước đầu của phương pháp Gottman là đánh giá toàn bộ các thử thách mà một cặp đôi đang phải đối mặt, cũng như các điểm mạnh của riêng họ. Chẳng hạn, nếu như bà Karen và ông Ameen đi đến được quyết định gặp gỡ một nhà trị liệu được đào tạo về phương pháp Gottman, mỗi ông bà sẽ nói ra về những lý do thôi thúc bản thân đi trị liệu và sau đó sẽ trải qua một quá trình Thăm dò Lai lịch để tìm ra được thông tin về lai lịch và triết lý của mối quan hệ của họ cũng như mối quan hệ của cha mẹ họ. Nhà trị liệu sau đó có thể sẽ hướng dẫn bà Karen và ông Ameen điền vào một số bảng câu hỏi viết tay, chẳng hạn như bài kiểm tra Điều tiết Hôn nhân Locke-Wallace để xác định được các phạm vi cần được củng cố trong cuộc hôn nhân của họ. Họ cũng sẽ cùng nhau thảo luận về các mục đích của việc trị liệu. Việc trị liệu bằng phương pháp Gottman sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận hai mũi nhọn để cặp đôi trên điều tiết nhằm giảm nhẹ các mâu thuẫn, đồng thời tăng cường các cảm xúc tích cực. Điều tiết giảm nhẹ có thể là việc xử lý các cảm xúc có liên quan đến việc cãi vã, hoặc “các biến cố”, giảm thiểu sự ảnh hưởng từ “tứ kỵ sĩ” thông qua việc tăng cường sự nhận thức của cặp đôi về các kiểu giao tiếp không phù hợp; tạo điều kiện cho việc thỏa hiệp về các vấn đề nan giải; áp dụng các kỹ thuật làm dịu sinh lý như thở sâu và thiền; và hạn chế yếu tố mà ông Gottman gọi là “những sự khởi đầu gay gắt”. Chẳng hạn, nếu như bà Karen bắt chuyện với ông Ameen bằng lời lẽ bực dọc, “Đấy, lại thế nữa rồi, cứ ích kỷ dành cả buổi tối để nói chuyện với chị ông”, thì ông Ameen sẽ tự động ở trạng thái phòng vệ. Nhà trị liệu sẽ muốn hướng dẫn bà Karen cách mở lời dịu dàng hơn, có thể là bằng một câu nói như, “Tôi cảm thấy bị tổn thương khi ông không để ý đến tôi mặc dù là tôi đã cố bắt chuyện với ông”. Điều tiết tăng cường cảm xúc tích cực có thể xảy ra trong cả tình huống mâu thuẫn và không có mâu thuẫn. Ông Gottman đã chỉ ra rằng kể cả khi các cặp đôi cãi vã với nhau, họ vẫn sẽ nỗ lực tìm ra được các sự gắn kết để giúp điều tiết sự tiêu cực trong tương tác. Các nỗ lực trên sẽ bao gồm việc ra sức đưa sự vui vẻ, hài hước, thấu hiểu, tình cảm,… vào quá trình tương tác. Người thường hướng về những nỗ lực kết nối của đối phương nhiều hơn, kể cả khi mâu thuẫn xảy ra, sẽ ít có khả năng chia cách hoặc ly hôn. Ông cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nên các cảm xúc tích cực trong các mối quan hệ vào những thời điểm tương đối ổn định. Đây chính là một quá trình tích cực trong việc tạo dựng sự thân mật trong các khoảnh khắc đời thường và gắn liền với các hành động như tham gia vào những đoạn đối thoại giải toả căng thẳng hằng ngày, thường xuyên bộc lộ tình cảm bằng hành động và lời nói, thấu hiểu hơn về thế giới của người còn lại (bản đồ tình yêu), và tạo ra các thói quen có ý nghĩa chung giữa hai người. Chẳng hạn, một nhà trị liệu được đào tạo về phương pháp Gottman có thể khuyến khích bà Karen và ông Ameen xây dựng lại một số thói quen cũ đã giúp cho hai ông bà gắn kết với nhau trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, bất kể người chị nói trên có đang hiện diện ở trong nhà của họ đi chăng nữa. Nhìn chung, ông Gottman đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bằng hữu, tình cảm, lòng tin tưởng, và sự tôn trọng lẫn nhau trong một mối quan hệ yêu đương.
EFT sẽ có chín bước trị liệu khác nhau được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên chú trọng vào việc phân tích và giảm chu kỳ các vòng lặp tương tác tiêu cực. Nhà trị liệu sẽ hỗ trợ cặp đôi trên trong việc xác định được vấn đề gây mâu thuẫn cụ thể của họ và nơi mà các vấn đề đó được bộc lộ trên vòng tương tác tiêu cực. Bà cũng sẽ hỗ trợ họ nhìn nhận các cảm xúc hướng về sự gắn bó vốn là nguyên nhân ẩn dưới vị thế tương tác của họ. Các vấn đề sau đó sẽ được gói gọn lại trong khuôn khổ của các nhu cầu gắn bó. Chẳng hạn, trong trường hợp của bà Karen và ông Ameen, kiểu giao tiếp của họ ban đầu có thể được định hình bằng sự nóng giận từ phía bà Karen, và sự khó chịu từ ông Ameen khi đáp lại những đòi hỏi của bà Karen. Mối quan hệ đặc biệt của họ sẽ xoay vần trong vòng lặp mà trong đó bà Karen sẽ là người truy đuổi, ra sức hằn học để ông Ameen nhìn nhận và chú ý đến mình, khiến cho ông phải xa lánh vợ mình. Nhà trị liệu đi theo liệu pháp EFT sẽ giúp cho hai ông bà nhận thức được vòng lặp tương tác tiêu cực trên trong những giai đoạn đầu của quá trình trị liệu. Bà Karen cũng có thể sẽ dần dần hiểu được rằng ẩn sâu dưới sự nóng giận của bà tồn tại sự cô đơn, và cảm giác bị bỏ rơi, hoảng loạn mà bà cảm nhận được khi ông Ameen không đáp lại bà chính là hệ quả tự nhiên khi các nhu cầu gắn bó của bà chưa được đáp ứng. Mục tiêu của giai đoạn thứ hai là giúp họ thay đổi được các vị thế tương tác của mình. Tiến sĩ Johnson nhận định rằng công việc chính của các nhà trị liệu EFT là làm gián đoạn các vòng tương tác lặp đi lặp lại, tiêu cực, lẩn quẩn để kiểu tương tác mới có thể xuất hiện. Việc này có thể được thực hiện bằng cách khuyến khích bà Karen và ông Ameen chấp thuận và hồi đáp lại các trải nghiệm của riêng nhau bằng sự thấu hiểu, đồng thời giúp họ bày tỏ các mong muốn và nhu cầu gắn bó của họ từ một vị thế dễ bị tổn thương. Sau cùng, cặp đôi sẽ hướng đến một hình thức tương tác cảm xúc mà trong đó họ sẽ quan tâm và hồi đáp lẫn nhau. Giai đoạn thứ ba của trị liệu sẽ tập trung vào việc củng cố và tích hợp. Nhà trị liệu EFT sẽ đánh giá những gì mà cặp vợ chồng đã làm được trong suốt quá trình trị liệu và giúp họ tạo dựng nên được một bức tranh toàn cảnh về hành trình nhiều trăn trở của họ. Trong khi các nhà trị liệu đi theo phương pháp Gottman vào vai “huấn luyện viên cảm xúc” thì các nhà trị liệu EFT sẽ được xem như là một “người tư vấn tiến trình” giúp các cặp đôi đa dạng hóa và tái định hình lại các phản ứng cảm xúc của họ. Các nhà trị liệu EFT sẽ quan sát các sự tương tác của các cặp đôi và liên tục đưa ra đánh giá của mình, đồng thời cũng định hướng quá trình tương tác của họ. Ta có thể thấy rằng các nhà trị liệu EFT đều sẽ theo dõi và dẫn dắt các cặp đôi trong suốt tiến trình đi đến sự thay đổi các vị thế tương tác của họ. Các nhà trị liệu sẽ can thiệp vào quá trình tương tác theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như việc xác nhận, tự nhìn nhận, đặt ra các câu hỏi mang tính khơi gợi, và diễn giải đồng cảm nhẹ nhàng.
Trọng tâm giữa Quá trình và Nội dung

Tất cả ba liệu pháp được nêu trên đều công nhận tầm quan trọng của việc chú trọng vào quá trình thay vì nội dung. Khi các cặp đôi bắt đầu quá trình trị liệu, họ bị mắc kẹt trong các vấn đề ở bề nổi, tranh cãi với nhau về tiền bạc, tình dục hoặc con cái. Ông Hendrix rất rõ ràng về quá trình phát triển trong suy nghĩ của về việc ông sẽ dành bao nhiêu không gian cho các kiểu vấn đề như vậy; ông khẳng định rằng trong những năm đầu sự nghiệp, ông đã “đi sâu vào chi tiết” về sự giằng co giữa các cặp đôi để giúp họ thấu hiểu được các vấn đề của họ. Sau nhiều năm làm việc theo hướng này, ông đã nhận ra rằng ẩn dưới bề nổi của các vấn đề nhỏ nhặt là một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều: sự gắn kết bị rạn nứt giữa các cặp đôi. Sự rạn nứt ẩn dưới lời nói tương tác giữa họ: cũng giống như một ngọn lửa âm ỉ, nó sẽ dần dần làm tăng nhiệt độ lên và trở thành nguồn nhiên liệu thiêu rụi cả mâu thuẫn nhỏ nhặt hơn giữa các cặp đôi. Khi ông Hendrix hướng sự chú tâm của mình vào chất lượng của mối quan hệ của các cặp đôi – sự gắn kết giữa họ – ông đã bắt đầu thấy được những tiến bộ đáng kể trong những cặp đôi tham gia vào quá trình trị liệu của ông.
Liệu pháp EFT cũng thừa nhận một điều rằng cáchmà con người cãi vã với nhau sẽ quan trọng hơn việc họ cãi với nhau về cái gì, và nó gói gọn sự gắn kết bị rạn nứt trong khuôn khổ của lý thuyết gắn bó. Theo thuật ngữ trong EFT, một mối quan hệ lành mạnh sẽ được xem là một sự gắn bó an toàn. Các cặp đôi ở trong một mối quan hệ an toàn sẽ có sự quan tâm và hồi đáp với nhau một cách đúng đắn. Trong một mối quan hệ gặp nhiều vấn đề, cả hai bên sẽ phản hồi nhau theo hướng làm mất dần đi sự an toàn trong gắn bó, dẫn đến một hệ quả tất yếu: đầu tiên là họ sẽ nóng giận, sau đó họ níu giữ và trầm cảm, và cuối cùng là sẽ xa cách nhau. Tiến sĩ Johnson đã rất sắc sảo khi nhận thấy được rằng cái mà con người dùng để cãi vã với nhau khi họ tranh luận về tiền bạc, tình dục, hoặc con cái chính là bản chất thực sự của mối quan hệ gắn bó, cái sẽ gợi lên cho chúng ta thấy được danh tính của họ. Vì danh tính liên tục được định hình qua việc chúng ta tương tác với những người xung quanh, ông Johnson đã nhấn mạnh về một sự thật rằng các phản ứng phê phán hay khinh thường từ hai phía trong mối quan hệ có thể sẽ có một tác động rất độc hại lên nhận thức của một người về giá trị bản thân. Các phản ứng kém lý tưởng trên sẽ tạo ra các phản ứng và đau khổ cho những người bạn đời đau khổ, và tiếp tay cho các vòng lặp tương tác tiêu cực.
Cũng như EFT, phương pháp Gottman ít chú trọng hơn vào việc giúp các cặp đôi giải quyết các mâu thuẫn mà thay vào đó trao cho họ các phương thức để tạo ra các tương tác mang tính xoa dịu và xây dựng một kiểu tương tác cảm xúc cụ thể khi đang trong mâu thuẫn. Ông Gottman đã có sự rõ ràng khi phân biệt phương pháp trị liệu của mình với các lý thuyết truyền thống về cặp đôi mà chỉ tập trung “giải quyết mâu thuẫn”, với mục tiêu là giúp cho cả hai bên “giải quyết” được sự xung đột trong họ. Theo quan điểm truyền thống trên, ta có thể giải quyết được các vấn đề trong mối quan hệ (các vấn đề ở bề nổi), và một mối quan hệ lành mạnh là khi các cặp đôi hiếm khi hoặc không bao giờ cãi vã với nhau. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của ông Gottman lại chỉ ra rằng 69% các xung đột trong quan hệ sẽ kéo dài vĩnh viễn, tức là các vấn đề mà các cặp đôi tranh cãi với nhau đều có nguồn cơn từ những sự khác biệt lâu dài trong các tính cách, quan điểm, và nhu cầu, mà ta sẽ không bao giờ có thể giải quyết một cách triệt để. Các cặp đôi trong các mối quan hệ lành mạnh và bền vững sẽ tìm được cách sống chung với chúng, hoặc, theo như chính lời nói của ông Gottman, “các mối quan hệ vững chắc sẽ tạo dựng ra được… một “cuộc đối thoại” về các vấn đề trên”. Do các vấn đề trên bề nổi sẽ luôn luôn tồn tại ở một hình thức nào đó trong một mối quan hệ, ông Gottman hoàn toàn có đủ cơ sở để không chú trọng vào việc giải quyết vấn đề mà chỉ tập trung vào việc giúp các cặp đôi xây dựng các cảm xúc tích cực.
Chú trọng vào việc Tích cực Lắng nghe/Hướng dẫn Giao tiếp
Ba liệu pháp trên có sự khác biệt đáng kể trong sự nhấn mạnh vào hướng dẫn giao tiếp. Kỹ thuật chủ động lắng nghe 3 bước có tên là “Đối thoại Imago” sẽ là trọng tâm của IRT. Mặc dù việc đối thoại chỉ là một trong 18 bài thực hành mà các cặp đôi sẽ trải qua trong phương pháp trị liệu này, ông Hendrix xem nó như một quá trình thiết yếu để hàn gắn lại mối liên kết bị rạn nứt giữa hai bên trong mối quan hệ. Kỹ thuật trên sẽ bao gồm ba bước riêng biệt: mô phỏng, xác nhận, và thấu hiểu. Mỗi bước sẽ có sự sắp đặt kỹ càng, và các cặp đôi được yêu cầu không đi lệch hướng khỏi khuôn mẫu đối thoại. Trong IRT, nhà trị liệu sẽ chọn ra một bên trong mối quan hệ để làm “Người gửi”. Người đó có thể sẽ nói với đối phương rằng, “Anh/em muốn mình nói chuyện với nhau. Liệu mình nói chuyện bây giờ thì có được không?”, rồi sau đó sẽ chia sẻ những suy nghĩ hay cảm xúc của bản thân. Bạn đời của người gửi, mà ta gọi là “Người nhận”, sau đó sẽ diễn đạt lại thông điệp của Người gửi bằng lời nói của mình. Quá trình mô phỏng này sẽ tiếp diễn cho đến khi Người gửi cảm thấy rằng đối phương đã thấu hiểu được thông điệp của mình. Cặp đôi sau đó sẽ đi đến bước xác nhận, yêu cầu Người nhận không chỉ lắng nghe và hiểu được những gì được nói ra mà phải xác nhận được tâm tư của Người gửi. Chẳng hạn, trong một cuộc đối thoại ở bước xác nhận, Người gửi có thể nói là, “Em có hiểu được những gì anh vừa nói không? Anh có thể hiểu được tại sao em lại cảm thấy như vậy không?”. Sau đó, Người nhận có thể đáp lại rằng, “Có, anh hiểu em bực dọc vì…”. Nói cách khác, Người nhận sẽ công nhận “sự thật” về trải nghiệm của Người gửi. Người nhận không nhất thiết phải đồng quan điểm với Người gửi, nhưng phải có nỗ lực trong việc gác lại thế giới quan của mình để nhìn nhận được thực tại của Người gửi một cách thành thực. Bước cuối cùng của kỹ thuật “Đối thoại Imago” chính là sự thấu hiểu, thứ mà ông Hendrix định nghĩa là “khả năng hiểu rõ được điều mà người khác đang trải qua kể cả khi bạn chưa bao giờ có trải nghiệm nào giống như vậy”. Khi Người nhận hồi đáp lại thông điệp của Người gửi bằng sự thấu hiểu, tức là họ đã công nhận và đáp lại các cảm xúc đằng sau tâm tư của đối phương. Trong khi ông Hendrix xem kỹ thuật “Đối thoại Imago” là một trong những kỹ thuật chủ lực của mình, thì ông Gottman lại ít chú trọng hơn vào các hoạt động giao tiếp được sắp đặt sẵn. Mặc dù ông vẫn tin rằng ta sẽ có một “phạm vi thiết yếu” để tạo điều kiện cho việc tích cực lắng nghe trong nỗ lực củng cố và duy trì một mối quan hệ, ông lại không xem việc hướng dẫn giao tiếp như nền tảng của một liệu pháp tình yêu. Trên thực tế, ông đã chỉ ra rằng các kỹ năng được hướng dẫn trong nhiều khóa đào tạo giao tiếp không phải lúc nào cũng được bộc lộ trong các sự tương tác giữa các cặp đôi có cảm giác yên tâm, và hài lòng trong quan hệ. Vì lý do này, ông không tin rằng một quan hệ mà trong đó hai bên không tích cực lắng nghe nhau khi nói chuyện sẽ không còn cơ hội nào nữa. Ông đã tán thành tính thiết thực của việc công nhận và thấu hiểu, nhưng lại chỉ xem chúng như một phần nhỏ của chiến lược tổng quát trong tiến trình hàn gắn hôn nhân.
Liệu pháp EFT đi theo dòng suy luận của ông Gottman về tầm quan trọng trong sử dụng việc tích cực lắng nghe như một kỹ thuật trị liệu cho các cặp đôi. Từ góc nhìn của sự gắn bó, việc tích cực lắng nghe chính là một hình thức tương tác cảm xúc, và qua đó sẽ mang lại giá trị khi sử dụng một phương thức có tính hệ thống để công nhận và thấu hiểu được đối phương vì việc này sẽ tạo điều kiện cho quá trình tương tác an toàn về cảm xúc. Việc tích cực lắng nghe sẽ có khả năng giải tỏa căng thẳng. Bà Susan Johnson đã chỉ ra rằng các cặp đôi có cảm giác an toàn có thể tận dụng cách thức trên trong các thói quen thường ngày để giảm leo thang các vòng lặp tương tác tiêu cực. Tuy nhiên, riêng việc tích cực lắng nghe thôi không phải có thể giải quyết được trạng thái hấp thụ cảm xúc tiêu cực vốn là đặc điểm của nhiều mối quan hệ trắc trở, và hơn nữa, bà Johnson lại chưa bao giờ có chủ ý kết hợp việc hướng dẫn giao tiếp vào các phiên trị liệu EFT. Chúng ta cần phải nhớ rằng EFT sẽ có khả năng “thoát ly” ra khỏi các vòng tương tác tiêu cực phụ thuộc vào cấp độ an toàn trong một mối quan hệ, và qua góc nhìn này, việc giao tiếp phi ngôn ngữ và theo quá trình có tầm quan trọng lớn hơn liệu pháp giao tiếp lời nói thuần túy để duy trì các mối quan hệ lành mạnh.
Như chúng ta đã thấy được, ba liệu pháp tình yêu chủ đạo được bàn luận trong bài viết này đều có đủ sự khác biệt với nhau để được sử dụng bởi các nhà trị liệu với nền tảng học vấn khác nhau và làm thay đổi các triết lý. Phương pháp của ông Gottman có nền tảng là khoa học căn bản, và các kỹ thuật mà ông chú trọng vào để làm việc với các cặp đôi bắt nguồn từ những kết quả của vô số các cuộc nghiên cứu phi can thiệp được thực hiện trong các môi trường được kiểm soát nghiêm ngặt. Bà Susan Johnson đã nhấn mạnh một sự thật rằng EFT có nền tảng dựa trên sự thực nghiệm do nó bắt nguồn từ lý thuyết gắn bó và rằng các cuộc nghiên cứu về tính hiệu quả của các khoá trị liệu EFT đã cho ta thấy được các kết quả khả quan trọng việc hàn gắn lại một cuộc hôn nhân trong xung đột. IRT, có nền tảng ít chú trọng vào nghiên cứu nhất trong ba liệu pháp trên, là sự dung hợp độc đáo giữa truyền thống phân tâm học và kiến thức về tinh thần, và cũng có thể được xem là liệu pháp phổ biến nhất và có tính thương mại nhất. Các nhà trị liệu cần phải dành thời gian để làm quen với các phương thức khác nhau trước khi bắt tay vào làm việc với cặp đôi. Việc bám theo một phương thức đúng đắn – phương thức mà mỗi người chúng ta “cảm thấy phù hợp” với chính các thuyết luận của bản thân – sẽ tạo nên sự khác biệt giữa sự hiệu quả và thiếu hiệu quả trong trị liệu tình yêu.
Tác giả Gabrielle Nabi, Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình được cấp phép, Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội, Cử nhân Xã hội học được cấp phép. Bà Gabrielle Nabi đã được trao bằng thạc sĩ ngành Công tác Xã hội tại trường Đại học Washington của thành phố St. Louis và bằng thạc sĩ ngành Tâm lý học Lâm sàng với trọng tâm hướng về mảng trị liệu hôn nhân và gia đình tại trường Đại học Pepperdine. Bà cũng là một cử nhận trong ngành Nghiên cứu Tôn giáo tại trường Đại học Chicago. Bà đã từng công tác trong vị trí biên tập viên hàn lâm của công ty xuất bản John Wiley & Sons và đã đúc kết được hơn mười lăm năm kinh nghiệm trong ngành xuất bản. Bà hiện đang làm việc với các thân chủ của mình trong một cơ sở tư tại Bãi biển Huntington, bang California, nơi bà tiếp nhận các đối tượng trị liệu bao gồm người lớn, trẻ em, cặp đôi, và các gia đình.
Tài liệu tham khảo
Hendrix, H. (2008). Đi tìm tình yêu mà bạn muốn: Phương hướng dành cho các cặp đôi. Thành phố New York, bang New York: Nhà xuất bản St. Martin’s.
Brown, R. (1999). Liệu pháp Mối quan hệ Imago: Giới thiệu về lý thuyết và thực hành. Thành phố New York: Nhà xuất bản John Wiley & Sons.
Johnson, S. M. (2008). Liệu pháp tình yêu tập trung cảm xúc. A. S. Gurman (Ed.), Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi, tái bản lần thứ tư (trang 107-137). Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.
Johnson, S. M. (19-09-2024). Liệu anh có muốn ở bên em không? Nắm bắt được nền tảng của mâu thuẫn trong tình yêu. Báo The Psychotherapy Networker. Nguồn: ttps://www.psychotherapynetworker.org
Gottman, J. M., & Silver, N. (2012). Tình yêu bền vững nhờ đâu: Phương thức xây dựng lòng tin tưởng và ngăn chặn sự bất trung. Thành phố New York: Nhà xuất bản Simon and Schuster.
Gottman, J. M., & Gottman, J. S. (2008). Liệu pháp tình yêu theo phương pháp Gottman. A. S. Gurman (Ed.), Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi, tái bản lần thứ tư (trang 138-164). Thành phố New York, bang New York: Nhà xuất bản Guilford Press.
Gottman, J. M., & Silver, N. (2015). Bảy nguyên tắc trong hôn nhân bền vững. Thành phố New York: Nhà xuất bản Harmony Books.
Ohlson, K. (10-2015). Nhà bác học tình yêu. Báo Psychology Today, trang 72-81.
Bảng tóm tắt các phương thức trị liệu tình yêu Liệu pháp Mối quan hệ Imago (IRT) Liệu pháp Tình yêu theo phương pháp Gottman Liệu pháp Tình yêu Tập trung cảm xúc (EFT) Khuôn khổ trị liệu 18 bài thực hành trong mười phiên trị liệu Từ 10 đến 12 phiên trị liệu; các cơ sơ dành riêng cho các cặp đôi Chín bước trị liệu chia thành ba giai đoạn Nền tảng lý thuyết Phân tâm học/các truyền thống tâm linh đa dạng/khoa học về hành vi/chủ nghĩa nhân văn Nghiên cứu thực nghiệm trong hơn ba thập kỷ trở lại đây Lý thuyết gắn bó; chủ nghĩa hậu hiện đại/xây dựng; thực nghiệm/hình thái tổng; tương tác/hệ thống Vai trò/Lập trường của nhà trị liệu Hướng dẫn qua sự thấu hiểu và củng cố sự hiểu biết về quan hệ của các cặp đôi “Gia sư cảm xúc” “Người tư vấn tiến trình” Mục tiêu chính trong trị liệu Tạo dựng nên một mối quan hệ có ý thức Sự hài lòng về quan hệ (“ấm cửa yên nhà”) Tạo dựng nên sự gắn bó giữa hai người trong quan hệ/giải tỏa căng thẳng và thay đổi các vị thế tương tác Quang Thái dịch, ThS Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính
-
Tác giả Ian Mayes
Tổ chức Camphill Soltane, Glenmoore, Pensylvania
The Person-Centered Journal, Vol. 17, No. 1-2, 2010Bản thân tôi xem tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực (Nonviolent Communication – NVC) như một bộ công cụ để hỗ trợ mọi người thực hành Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm (Person-Centered Approach – PCA) trong các mối quan hệ liên cá nhân. Theo như tôi thấy thì giá trị lớn lao của NVC chính là việc tiến trình này cho phép mọi người biến PCA, thường được nhìn nhận theo hướng mang nặng tính lý thuyết, thành một thứ có tính thực tiễn cao để bất cứ ai cũng có thể áp dụng được. Tôi nhận thấy rằng Giao Tiếp Phi Bạo Lực có tiềm năng rất lớn trong việc hỗ trợ khả năng áp dụng Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm trong nhiều tình huống đang ngày càng đa dạng hơn trong đời thực.
Trong bài viết này, tôi sẽ điểm qua một số điểm then chốt trong Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm, đặc biệt nhấn mạnh vào tài liệu được nhà tâm lý học Carl Rogers viết vào năm 1956 với tiêu đề “Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu”, và liệt kê các phương thức thực hành chứng minh cho các điều kiện trên trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực.

Nguồn gốc của Giao Tiếp Phi Bạo Lực
Giao Tiếp Phi Bạo Lực đã lần đầu được phát triển bởi tiến sĩ Marshall B. Rosenberg, người từng là học trò của nhà tâm lý học Carl Rogers tại Đại học Wisconsin-Madison trong khoảng thời gian từ năm 1957-1963. Tiến sĩ Rosenberg coi ông Rogers là một người có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển công trình nghiên cứu của mình. Cho đến thời điểm cuối cùng trong tiến trình cộng tác với nhau, họ cũng đã là đồng nghiệp làm việc trong Dự Án Wisconsin. Vào năm 1966, ông Rosenberg đã được Hội Đồng Giám Khảo Hoa Kỳ mảng Tâm Lý Học Chuyên Nghiệp trao tặng danh hiệu chuyên môn trong lĩnh vực tâm lý học lâm sàng.
Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực đã được ra đời qua công trình nghiên cứu của ông Marshall Rosenberg trong những năm 1960, một dự án cung cấp các khóa đào tạo về kỹ năng giao tiếp và hòa giải cho các cộng đồng đang có những nỗ lực hòa bình trong việc xóa bỏ tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học và các tổ chức công khác. Trong những năm 1980, một tổ chức đã được ra đời với cái tên là “Trung tâm Giao Tiếp Phi Bạo Lực” để cung cấp hệ thống và cơ chế cho tất cả các khóa đào tạo về Giao Tiếp Phi Bạo Lực diễn ra trên toàn thề giới.
Áp dụng Giao Tiếp Phi Bạo Lực cho “Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu” của Carl Rogers
Sau đây là nội dung trong bài viết về các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi về nhân cách trong trị liệu của Carl Rogers:
“Để các thay đổi trong nhân cách xảy ra theo chiều hướng tích cực thì các điều kiện sau đây phải tồn tại và tiếp diễn trong một khoảng thời gian nhất định:
- Hai người phải có sự tương tác với nhau về mặt tâm lý (psychological contact).
- Người đầu tiên, được gọi là thân chủ, ở trong tình trạng không hòa hợp nội tại (incongruence), cảm giác trong ngoài bất nhất, dễ bị tổn thương và lo âu.
- Người thứ hai, được gọi nhà trị liệu, có sự hòa hợp nội tại (congruence) hoặc nhất quán trong một mối quan hệ.
- Nhà trị liệu có sự quan tâm/tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard) dành cho thân chủ của mình.
- Nhà trị liệu có sự hiểu biết mang tính thấu cảm (empathic understanding) dưới khung tham chiếu nội tại của thân chủ về những cảm nhận và suy nghĩ của thân chủ và nỗ lực truyền đạt lại sự thấu hiểu của mình cho họ.
- Việc truyền đạt lại cảm giác thấu hiểu sâu sắc và sự tôn trọng tích cực vô điều kiện của nhà trị liệu cho thân chủ phải đạt được trên một mức độ tối thiểu.
Không cần bất cứ một điều kiện nào khác nữa. Chúng ta chỉ cần có đủ được sáu điều kiện trên tồn tại, và tiếp diễn trong một khoảng thời gian nhất định. Khi đó, tiến trình thay đổi nhân cách theo chiều hướng tích cực ắt xảy ra.”
Sau đây, tôi sẽ giải thích về cách thức mà tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có thể cung cấp phương thức thực hành và phương tiện cụ thể để hỗ trợ các cá nhân tạo ra một trong sáu điều kiện được nêu trên. Tôi sẽ bắt đầu với việc bàn luận về ba điều kiện mà ông Rogers gọi là “các điều kiện cốt lõi”, bao gồm “Tính chân thực (authenticity), sự thấu cảm (empathy), và sự tôn trọng tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard).”
Sư chân thực
Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có hai phương thức thực hành để hỗ trợ cho việc đạt được sự chân thực (hay còn gọi là “sự hòa hợp/nhất quán”) trong một mối quan hệ. Phương thức thực hành đầu tiên được gọi là “tự thấu cảm” (self-empathy), bao gồm việc suy ngẫm và tự hỏi chính mình rằng bản thân đang cảm thấy như thế nào và cần có những gì trong một tình huống cụ thể. Đây chính là việc “trao sự thấu cảm cho chính bản thân mình”, thực sự lắng nghe chính bản thân để nắm bắt được bản chất của những cảm xúc mãnh liệt, sống động trong bản thân và những nhu cầu đã thúc đẩy những cảm xúc ấy.
Phương thức thực hành thứ hai được gọi là “biểu lộ thành thật” (honest expression). Theo thông lệ của NVC, dạng thức này xảy ra khi trước tiên một ai đó nói về sự quan sát của họ (tức là về những gì đã được nói hoặc làm một cách cụ thể) mà không thêm vào bất gì sự đánh giá hay diễn giải nào. Sau đó, người nói sẽ nói về những cảm giác và nhu cầu nào khiến họ thấy xáo động qua sự quan sát trên. Việc bộc lộ các cảm giác và nhu cầu của bản thân chính là một điểm hữu ích, và thậm chí là cần thiết trong việc giúp người nói trải qua một tiến trình tự thấu cảm với chính bản thân họ trước khi thành thật bộc lộ với người còn lại. Sau cùng, người nói sẽ đưa ra một thỉnh cầu rõ ràng và khả thi cho người kia và người đó sẽ mô tả cụ thể những điều có thể được thực hiện để đáp ứng được các nhu cầu được bộc lộ một cách tốt hơn.
Sự thấu cảm
Thực hành sự thấu cảm trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực bao gồm việc chú ý lắng nghe một ai đó với sự tò mò chủ động về những gì mà người nói có thể đang cảm thấy và cần đến. Việc lắng nghe này có thể được thực hiện một cách thầm lặng, hoặc cũng có thể đi kèm với việc nói ra các suy đoán về các cảm giác và nhu cầu tiềm ẩn để thăm hỏi người nói.
Trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực, sự thấu cảm là một yếu tố được tập trung nhiều đến mức được xem là một phương thức thực hành cụ thể mà những người ứng dụng NVC thường sắp xếp gác lại các công việc cụ thể để chuyên tâm thực hành. Thêm nữa, sự thấu cảm trên cũng được xem là một yếu tố có thể tồn tại trong các tương tác giữa các cá nhân với nhau, và sự hiện diện của yếu tố này sẽ có lợi nếu được tăng cường. Việc thực hành lắng nghe thấu cảm trong NVC (thường được gọi là “trao đi sự thấu cảm”) sẽ mang tính công khai, có chủ ý mà chúng ta có thể học được, và chúng ta sẽ có các phương tiện để củng cố sự phát triển của kỹ năng này.
Trong thời gian qua, những hình thức xã hội mới đã có sự phát triển trong các cộng đồng NVC để củng cố các kỹ năng lắng nghe thấu hiểu giữa các cá nhân. Chẳng hạn, chúng ta có thể có được mối quan hệ hợp tác giữa hai người mang tính “người bạn thấu cảm” mà trong đó các cá nhân sẽ thay phiên nhau lắng nghe thấu cảm với người kia và được người kia lắng nghe thấu cảm lại. Chúng ta cũng có các mối quan hệ “nhóm thấu cảm” mà trong đó toàn bộ một nhóm người sẽ thay phiên nhau lắng nghe và thấu cảm với một cá nhân.
Sự tôn trọng tích cực vô điều kiện
Một sự phân định mà NVC đem lại chính là phân biệt giữa sự giao tiếp “mở lòng” và giao tiếp “khép lòng”, kiểu như đặt ra câu hỏi “liệu trái tim bạn đang rộng mở hay khép kín?” Cụm từ “mở lòng” sẽ đồng nghĩa với “sự tôn trọng tích cực vô điều kiện”, trong khi “khép lòng” thì đồng nghĩa với “sự tôn trọng tích cực… có điều kiện”. Nhiều phương thức thực hành có trong NVC hiện vẫn đang được phát triển để phân biệt được rằng liệu trái tim của một người là đang rộng mở hay khép kín.
Nếu như một người đang có sự phán xét về một người khác, và nếu như sự tôn trọng của người đó là “có điều kiện”, thì chúng ta sẽ có một tiến trình mà trong NVC được gọi là tiến trình “Diễn dịch Hình ảnh về Đối phương”. Tiến trình này sẽ gắn liền với việc tìm hiểu những phán xét của bản thân về người khác, nhận biết được những đòi hỏi mà bản thân đặt ra cho họ, và qua đó xem xét lại tiến trình suy nghĩ của bản thân. Sau đó, chúng ta sẽ áp dụng tiến trình xác định các yếu tố bao gồm “Quan sát’, “Cảm xúc”, và “Nhu cầu” cho chính bản thân và để suy đoán về tình huống của người đang được phán xét. Sau cùng, qua tiến trình trên, lối suy nghĩ phán xét (hay còn gọi là “hình ảnh đối phương”) sẽ được chuyển đổi thành sự tường minh và tôn trọng sâu sắc hơn đối với cả bản thân và người kia.
Phương thức thực hành còn lại của sự tôn trọng tích cực vô điều kiện là việc bộc lộ sự biết ơn và cảm kích với người kia. Những biểu hiện này có thể được củng cố thêm với tiến trình NVC bằng cách chứa đựng những biểu đạt mang tính tham chiếu với các hành động đã được thực hiện, các nhu cầu cụ thể đã được đáp ứng bằng các hành động trên, và các cảm xúc tích cực sẽ xuất hiện nhờ tất cả những điều này.
Sự nhận biết của thân chủ về các điều kiện cốt lõi
Có một phương tiện trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực giúp bạn nhận biết được rằng liệu người mà bạn đang tương tác cùng có cảm thấy bạn đang chân thực, thấu cảm và tôn trọng tích cực vô điều kiện hay không. Phương tiện này được gọi là “Đề nghị/thỉnh cầu kết nối”. Kiểu thỉnh cầu này sẽ chủ yếu tập trung vào chính mối quan hệ trong khoảnh khắc hiện tại. Chẳng hạn như, các thỉnh cầu kết nối có thể là những câu hỏi như “Bạn cảm thấy thế nào khi nghe tôi nói như vậy?” “Bạn có thể thuật lại cho tôi điều mà bạn vừa nghe tôi nói được không?” hay “Bạn có tin là tôi đang rất nghiêm túc về những gì mình tôi đang nói không?”. Dựa theo cách mà người bên kia trả lời những câu hỏi này, bạn sẽ có thêm nhiều thông tin hơn để xem xét rằng liệu người đó có nhận biết được các điều kiện cốt lõi đang hiện có trong một mối quan hệ hay không.
Nỗi sợ hãi và sự lo âu của thân chủ
Có một khái niệm được sử dụng trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực đó là “ranh giới” và việc “hoạt động bằng các ranh giới của bản thân”. “Ranh giới” tức là phạm vi mà trong đó sự thoải mái của một cá nhân trong việc nhìn nhận và nói chuyện về một vấn đề riêng tư có sự thay đổi bất ngờ. Đây chính là nơi mà phạm vi cá nhân trở nên “quá riêng tư”, “quá nguy hiểm”, “đáng sợ” và vân vân. “Ranh giới” chính là nơi giao nhau giữa “vùng an toàn” và “vùng ngoài an toàn” trong tâm lý của một cá nhân. Chúng ta hiện có rất nhiều phương thức thực hành để xác định được các phạm vi trên và thử nghiệm với chúng.
Giao tiếp còn được gọi là “bước gần đến nỗi sợ của bản thân”. Để thực hiện được điều này thì đầu tiên là phải xác định xem điều gì thường gây ra cảm giác sợ hãi cho thân chủ và sau đó là xác định một cá nhân cụ thể tượng trưng cho nỗi sợ của thân chủ đó. Sau khi thực hiện xong các bước trên, thân chủ sẽ tiếp cận cá nhân cụ thể trên và bắt đầu trò chuyện với người đó. Xuyên suốt cuộc trò chuyện, thân chủ sẽ nỗ lực hết sức để tỏ ra thành thực, thấu cảm, và quan tâm, và đồng thời đưa ra các yêu cầu rõ ràng và khả thi về các phương hướng để cải thiện tình hình.
Khái niệm thứ ba trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực gắn liền với một phạm vi được gọi là “sự chân thật đáng sợ”. Cụm từ này đề cập đến những suy nghĩ ở trong tâm trí của thân chủ và được thân chủ thừa nhận, nhưng không thể được thân chủ nói lên thành lời do họ quá sợ hãi. Việc nghĩ sao nói vậy có thể được xem là trung thực, nhưng làm như vậy cũng sẽ rất “đáng sợ”. Việc phát triển nên một phương thức thực thành có thể khơi gợi đủ dũng khí để nói ra được những suy nghĩ trên chính là đang thực hành “sự chân thật đáng sợ”.
Tương tác có tính tâm lý
Khái niệm “tương tác tâm lý” được Carl Rogers sử dụng còn được gọi là “sự nối kết từ trái tim” trong Giao Tiếp Phi Bạo Lực. Trong NVC, việc thiết lập các “mối dây nối kết” có ý nghĩa rất lớn, và nhiều người có chuyên môn sẽ xem việc này như mục đính duy nhất của cả tiến trình. Cũng như tham vấn viên NVC nổi tiếng có tên là Robert Gonzales đã từng nói:
“Chủ đích của NVC là tạo ra được một sự nối kết mà qua đó các nhu cầu của tất cả mọi người đều được trân quý như nhau và được đáp ứng thông qua việc tự nguyện cho đi”.
Cũng giống với các đức tính được nêu trên, chúng ta sẽ có nhiều hình thức thực hành trong NVC để nhận biết và củng cố chất lượng của sự gắn kết giữa người với người.
Các khái niệm chủ đạo khác về Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm
Khuynh hướng hiện thực hóa
NVC có một quan niệm cốt lõi cho rằng tất cả những gì mà con người thực hiện đều là những nỗ lực trong việc đáp ứng được các nhu cầu căn bản của họ. Một nhu cầu căn bản của con người sẽ khác với một chiến lược được đặt ra để đáp ứng được các nhu cầu, hay nói cách khác, nhu cầu đó không phải là của riêng một ai, và không phụ thuộc vào một nơi chốn, một vật thể, hay một hành động nhất định. Chẳng hạn, các khái niệm như “tình thương”, “sự công nhận”, “sự thấu hiểu”, “thành tích”, “cảm giác được chào đón”, và vân vân, đều là các nhu cầu căn bản của con người, trong khi các khái niệm như “Ông Smith”, “ngồi cạnh tôi”, “đọc sách”, “trúng giải”, và “có thẻ thành viên” đều có thể được xem là các chiến lược để đáp ứng được các nhu cầu và sẽ không được xem là các nhu cầu.
Vì vậy, khuynh hướng hiện thực hóa có thể được xem như là một sự ham muốn cơ bản thôi thúc mỗi người phải đáp ứng được các nhu cầu của bản thân. Khuynh hướng hiện thực hóa không phải là các nhu cầu căn bản của con người, mà là ham muốn cơ bản của con người trong việc thỏa mãn được các nhu cầu. Bản thân tôi tin rằng việc nhìn nhận sự việc qua phương hướng này sẽ giúp chúng ta nhìn ra được một bức tranh toàn cảnh rõ ràng hơn về cách thức mà khuynh hướng hiện thực hóa ảnh hưởng đến đời sống thường ngày của chúng ta.
Sức mạnh cá nhân
Bản thân tôi nhận thấy rằng Giao Tiếp Phi Bạo Lực có mối liên hệ với sức mạnh cá nhân theo hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất, tiến trình này sẽ củng cố năng lực của mỗi người trong việc nhìn nhận thế giới xung quanh họ nếu dựa trên những quan sát rõ ràng và các yêu cầu khả thi mà độc lập và khác biệt với việc lý giải và đánh giá. Tôi tin rằng việc nhìn nhận thế giới theo đúng bản chất của nó thay vì dựa vào suy nghĩ của người khác về nó sẽ giúp con người có được một tầm hiểu biết đầy đủ hơn về việc tận dụng những gì thực sự tồn tại để có tiềm năng đáp ứng được các nhu cầu. Hướng thứ hai, NVC sẽ củng cố năng lực của mỗi người trong việc ý thức được các sự lựa chọn trong từng khoảnh khắc mà họ đưa ra để nỗ lực đáp ứng được các nhu cầu cụ thể. Một khi con người đã nhận thức được các nhu cầu mà mình muốn đáp ứng được trong một tình huống cụ thể, thì họ sẽ có thể đánh giá lại dự định của mình và đưa ra các lựa chọn mà họ nghĩ là sẽ có khả năng cao trong việc đáp ứng được các nhu cầu đó.
Giao Tiếp Phi Bạo Lực như một Tiếp cận Nhân vị Trọng tâm hiện đại
Có thể “giảng dạy”
Sẽ luôn có những thứ rất cụ thể để một người hướng sự chú tâm của họ vào. Chẳng hạn, bạn có thể chú trọng vào “quan sát”, “cảm xúc”, “nhu cầu”, hoặc “thỉnh cầu” theo nhiều hướng khác nhau. Bạn có thể chú trọng vào yếu tố đó theo cách mà chúng có liên quan đến bạn trong hiện tại, quá khứ, hoặc tương lai, hoặc theo một người khác, hoặc bạn có thể chú trọng vào chúng theo những suy nghĩ của bạn về một người khác. Dưới sự hỗ trợ của một nhà trị liệu có trình độ, ta có thể liên tục hướng sự chú tâm của một thân chủ đến các phạm vi mà trong đó các khái niệm và phương thức của NVC có thể được áp dụng. Bạn cũng có thể phân chia NVC thành “mảng” nhỏ hơn. Chẳng hạn, bạn có thể chú trọng riêng biệt vào từng yếu tố trong “quan sát”, “cảm xúc”, “nhu cầu”, hoặc “thỉnh cầu” cho đến khi bạn cảm thấy đủ tự tin với mỗi yếu tố để chuyển sang yếu tố khác. Chúng ta không nhất thiết phải nắm bắt được các khái niệm khác để tìm ra được giá trị của việc thực hiện một khái niệm nào đó.
Có thể học được
Có những tiến trình hướng dẫn theo từng bước cụ thể để áp dụng cho việc thực hành và học hỏi. Chúng ta có thể lặp đi lặp lại các tiến trình này cho đến khi định hình nên được các thói quen mới xoay quanh việc tận dụng chúng. Thêm vào đó, chúng ta có thể kiểm tra từng bước để đảm bảo được việc thực hiện theo đúng quy cách. Chẳng hạn, chúng ta sẽ những có cách để biết được đâu là yêu cầu, đâu là quan sát, hay đâu là nhu cầu, và vân vân.
Có thể minh họa/thị phạm
Tiến trình Giao Tiếp Phi Bạo Lực có thể được trình bày bởi những người được đào tạo về tiến trình đó và lựa chọn sử dụng nó. Các tình huống mà trong đó tiến trình này được trình bày bởi một hoặc nhiều người sử dụng NVC có thể được những người đã được đào tạo về NVC sắp xếp thành các màn kịch sắm vai.
Lời nhắn nhủ đến các bạn đọc
Để phát triển các kỹ năng và trình độ cho chính bản thân trong việc xây dựng nên sáu điều kiện mà ông Rogers đã cho là cần thiết trong việc thay đổi tính cách theo chiều hướng tích cực, tôi mong muốn các bạn tìm hiểu sâu hơn về Giao Tiếp Phi Bạo Lực.
Tài liệu tham khảo
d’Ansembourg, Thomas. (2007). Đừng nhu mì, hãy thành thực. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.
Rogers, Carl. (1989). Các điều kiện tiên quyết của sự chuyển biến về tính cách trong trị liệu. Tuyển tập Carl Rogers. Nhà xuất bản Mariner Books.
Rogers, Carl. (1967). Tác động từ các mối quan hệ trong trị liệu: Nghiên cứu về liệu pháp tâm lý cho bệnh tâm thần phân liệt. Nhà xuất bản The University of Wisconsin Press.
Rosenberg, Marshall. (2003). Làm giàu cho đời sống bằng giáo dục: NVC giúp cải thiện học lực trong trường, giảm thiểu xung đột và củng cố các mối quan hệ. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.
Rosenberg, Marshall. (2003). Giao Tiếp Phi Bạo Lực: Ngôn ngữ của đời sống. Tái bản lần thứ hai. Thành phố Encinitas, bang California: Nhà xuất bản Puddledancer Press.
Phụ lục
Hướng Dẫn Tham Khảo Nhanh về Giao Tiếp Phi Bạo Lực

Bộc lộ chân thật Thấu cảm Quan sát Khi tôi nhìn/nghe thấy… [Quan sát] [Khi bạn nhìn/nghe thấy…] Cảm xúc Tôi cảm thấy… [Cảm xúc] [Có phải bạn cảm thấy…?] Nhu cầu Vì tôi cần… [Nhu cầu] [Vì bạn cần…] Thỉnh cầu Liệu bạn có sẵn lòng… [Thỉnh cầu] [Bạn có muốn…?] Quan sát: Mô tả những gì ta nhìn hoặc nghe thấy mà không kết hợp với sự diễn giải. Chẳng hạn, thay vì nói là “Con bé nó đang vùng vằng kìa”, thì bạn có thể nói là “Con bé nó đang nằm bò ra nhà mà khóc giẫy lên kia kìa”. Khi đề cập đến lời nói của một ai đó, hãy cố gắng trích dẫn nguyên văn lời nói của họ thay vì diễn đạt lại.
Cảm xúc: Nói về các cảm xúc chúng ta thay vì kể chuyện hay nói ra ý nghĩ về những gì người khác đang làm. Chẳng hạn, thay vì nói là “Tôi thấy bị dụ dỗ quá” để ám chỉ về hành vi của người khác, bạn có thể nói là “Tôi cảm thấy không thoải mái lắm”. Hãy tránh các cụm từ như: “Tôi thấy là…” và “Tôi nghĩ là…” – vì các từ đi theo sau sẽ trở thành ý nghĩ, chứ không phải cảm xúc.
Nhu cầu: Là nguyên nhân của cảm xúc, mang tính phổ quát, tiếp diễn và phụ thuộc vào các hành động của các cá nhân nhất định. Hãy nói ra các nhu cầu của bản thân thay vì nói về các hành động của người khác (nguyên do). Chẳng hạn, hãy nói là “Mẹ thấy khó chịu vì mẹ cần có người phụ mẹ” thay vì nói là “Mẹ thấy khó chịu vì con không rửa bát”.
Thỉnh cầu: Đưa ra các yêu cầu rõ ràng và chắc nịch về những gì mà chúng ta muốn (thay vì nói về những cái ta không muốn). Chẳng hạn, hãy nói là “Liệu anh có sẵn sàng quay lại đây vào tối hôm nay vào thời gian mà mình đã hẹn trước không?” thay vì nói là “Liệu anh có đảm bảo là không đến trễ nữa được không?” Theo như định nghĩa thì chúng ta đưa ra các yêu cầu, chúng ta có thể nghe được câu trả lời là “không”, và qua đó có thể tạo cơ hội để tiếp tục trao đổi.
Thấu cảm: Trong NVC, chúng ta sẽ cần thấu hiểu được người khác bằng việc suy đoán về các cảm xúc và nhu cầu của họ. Thay vì cố gắng giải quyết vấn đề, mục tiêu của chúng ta là sự thấu hiểu. Chúng ta đôi khi có thể bỏ qua việc quan sát và yêu cầu. Khi tình huống không cho phép hoặc không tạo điều kiện cho lời nói thì chúng ta có thể bày tỏ sự thấu cảm một cách thầm lặng.
Thấu cảm với bản thân: Trong việc bày tỏ sự thấu cảm với bản thân, chúng ta sẽ lắng nghe nội tâm để liên kết với các cảm xúc và nhu cầu của chính chúng ta. Mối liên kết này sẽ giúp chúng ta đặt ra các bước đi tiếp theo.
Danh sách về một số nhu cầu căn bản của con người
Sinh tồn về mặt thể chất Không khí, dinh dưỡng, thức ăn, đào thải, nước, ngủ nghỉ, nơi ở, việc di chuyển, sự an toàn, cân bằng sinh học, biểu hiện tính dục Sự thân thiết Va chạm, sự gần gũi, tình cảm thể xác, sự nhạy cảm, hơi ấm tình cảm, sự thân mật, thư giãn, sự dịu dàng, quan tâm, gắn bó, sự an ủi, tình thương Sự tự chủ Sự tự do, không gian cá nhân, sự tự lập, ý chí, lựa chọn, sự kiên cường, cá tính, sự bền bỉ, quyền cá nhân Tâm lý Sự kích thích, tập trung, sự minh bạch / khả năng thấu hiểu, sự nhận biết, quan niệm, thông tin, ký ức, ý thức, suy tư, quan điểm, phân biệt Bộc lộ bản thân Sự sáng tạo, cảm giác được để ý, sự phát triển, nói chuyện, hồi phục, hát, học hỏi / thành thạo, ý nghĩa, giáo huấn, tạo hóa Sự chính trực Giá trị bản thân, tâm điểm, sự thành thực, danh tính, lòng tự trọng, sự điềm tĩnh, mục đích, sự quyết tâm, tầm nhìn / ước mơ, phương hướng, sự trung thực, phẩm giá Tôn vinh cuộc sống Sự sống, khoái cảm, niềm vui, thành tích, sự kích thích, phấn khích, khiêu vũ, khiếu hài hước, niềm đam mê, cường độ, vui chơi Tôn vinh sự mất mát: Khóc thương cho người thân đã mất, ước mơ chưa thực hiện, và vân vân Tinh thần Vẻ đẹp / thẩm mỹ, hạnh phúc, hòa hợp / hòa bình, ý thức về bản thân, trật tự, sự yên bình, lòng cảm tạ, đức tin, cảm hứng, hy vọng, giao thiệp, sự tồn tại, mục đích cao cả, vượt lên chính mình Tương trợ lẫn nhau/Xã hội Sự chấp thuận, lòng tin tưởng, bằng hữu, sự thấu cảm, cảm kích, hợp tác, cảm giác được chào đón, cộng đồng, đóng góp cho người khác, sự công nhận, trấn an, mối liên kết, danh tính nhóm, sự tôn trọng, hỗ trợ, trung thực từ người khác, sự tự do về cảm xúc, sự thấu hiểu, sự an toàn về cảm xúc Quang Thái dịch, ThS Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính
-
(Emotionally Focused Family Therapy and Play Therapy Techniques)
ANDREA K. WITTENBORN, ANTHONY J. FABER, ASHLEY M. HARVEY, and VOLKER K. THOMAS
Đại học Purdue, Thành phố West Lafayette, Bang Indiana, Mỹ

Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc cung cấp cho ta một bộ khung để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện những nhu cầu mang tính gắn bó như sự hỗ trợ trẻ và sự mang đến cho trẻ cảm giác thoải mái. Tuy vậy, trong quá trình làm việc với trẻ nhỏ, về mặt phát triển, trị liệu qua vui chơi lại thường được ưa chuộng hơn so với trị liệu qua trò chuyện. Bằng cách tích hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi trong khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc, các nhà trị liệu có thể giúp cho cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để phù hợp cho trẻ nhỏ và gia đình của các bé.
Trị liệu tập trung cảm xúc là một mô hình trị liệu được kiểm chứng dựa trên thực nghiệm dành cho các cặp đôi (gọi tắt là EFT; theo Greenberg và Johnson, 1988). EFT cũng đã được áp dụng cho các gia đình và được gọi với cái tên là Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc (gọi tắt là EFFT; theo Johnson và Lee, 2000). Mặc dù mô hình EFFT có sự hữu ích trong việc áp dụng với trẻ em và gia đình, trên thực tế các kỹ thuật của EFFT không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả cho trẻ nhỏ do giới hạn trong khả năng giao tiếp và nhận thức của các bé. Trong quá trình làm viêc với trẻ nhỏ, các kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi lại thường được áp dụng (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Trị liệu vui chơi đã được áp dụng từ những năm 1930 và rất nhiều kỹ thuật đã được phát triển qua nhiều năm sau đó (theo Axline, 1969). Bài báo này sẽ bàn luận về cách thức mà các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi có thể được kết hợp với bộ khung lý thuyết của Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc để nó hiệu quả với trẻ nhỏ và gia đình của các bé.
TRỊ LIỆU VUI CHƠI
Một trong những thách thức của quá trình làm việc với trẻ nhỏ và gia đình của các bé chính là người lớn và trẻ nhỏ sống trong những thế giới khác nhau. Người lớn có được năng lực giao tiếp để bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc của họ, trong khi trẻ nhỏ thì chưa có sự phát triển đầy đủ về các kỹ năng phù hợp để làm được điều tương tự. Người lớn thường khuyến khích trẻ em bước vào thế giới của người lớn qua việc dùng từ ngữ để biểu đạt trải nghiệm của các bé. Tuy nhiên, cách này lại thường không hiệu quả. Trái lại, những người lớn khi bước vào thế giới của trẻ em không những thấu hiểu được trải nghiệm của các bé mà còn tạo ra sự gắn kết về mặt cảm xúc (theo Guerney và Guerney, 1989). Vào năm 1994, Gil tranh luận rằng “người lớn cần phải tránh việc áp đặt các tương tác của người lớn lên trẻ con và tránh việc yêu cầu các bé phải tương tác theo những hướng mà các bé không thể thỏa hiệp với người khác được” (trang 37). Do đó, trẻ nhỏ cần có một phương pháp thay thế để bộc lộ bản thân mình.
Việc vui chơi cung cấp cho trẻ em các cơ hội để bộc lộ suy nghĩ và cảm xúc của mình qua cả lời nói và cử chỉ. Vui chơi sẽ giúp cho trẻ phát triển các năng lực và kỹ năng giải quyết vấn đề (theo White, 1966); cho trẻ em nơi chốn để chúng có thể tiếp nhận những trải nghiệm và tình huống (Piaget, 1969); và cho phép trẻ em xử lý các hành vi và mối bận tâm bằng cách chơi đùa với chúng (theo Erikson, 1963). Nickerson (1973) tin rằng sự vui chơi là một phương tiện tự nhiên cho việc bộc lộ bản thân, tạo điều kiện cho việc giao tiếp của trẻ em và mở ra cửa sổ giúp người lớn quan sát và bước vào tâm trí của trẻ. Tuy nhiên, Chethik (1989) chỉ ra rằng việc vui chơi thường không mang lại sự thay đổi mà chính sự can thiệp và tận dụng các trò chơi của các nhà trị liệu mới làm được.
Các nhà trị liệu đã tận dụng rất nhiều phương pháp của Trị liệu vui chơi khi làm việc với trẻ. Một vài trong số đó bao gồm vui chơi tự do, chơi rối, vẽ, nghệ thuật, kể chuyện, chơi với cát, nước, bùn hay đất sét (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Một vài khung lý thuyết đã được kết hợp với các trị liệu trên để áp dụng cho trẻ em, bao gồm trị liệu tâm động năng, nhận thức-hành vi và Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái. EFFT là mô hình lý thuyết khác có khuynh hướng có thể được áp dụng với trẻ nhỏ nhưng các nghiên cứu hiện nay chưa đề cập đến việc kết hợp các phương thức trong Trị liệu vui chơi với mô hình này.

TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH TẬP TRUNG CẢM XÚC
EFFT kết hợp sự điều tiết cảm xúc và các lý thuyết gắn bó cùng với các hướng tiếp cận mang tính hệ thống và có tính trải nghiệm. Theo EFFT, các vấn đề trong mối quan hệ được duy trì qua các mô hình tương tác tiêu cực dai dẳng, phản ánh các trạng thái cảm xúc sợ hãi và nóng giận. Những hành vi kém thích nghi được phát hiện trong các mô hình tương tác tiêu cực trên có thể được xem như là các song đề gắn bó dẫn đến nỗi đau chia cách. Cách mà các nhu cầu gắn bó của một cá nhân về sự an toàn, bảo vệ, và tiếp xúc được thực hiện, bị hạn chế, hoặc bị từ chối có thể gây ra nhiều vấn đề (theo Johnson, Maddeaux, và Blouin, 1998). Những cá nhân có kiểu hình gắn bó an toàn sẽ có xu hướng trông cậy vào những người mà họ gắn bó đặc biệt để tìm được sự an tâm và thể hiện được sự tự lập và tự tin. Trái lại, những ai có kiểu hình gắn bó bất an sẽ cường hóa các biểu cảm nóng giận và lo âu, đồng thời nằng nặc đòi người khác phải trấn an hoặc yêu cầu người khác tránh xa mình và hạn chế việc bộc lộ sự lo âu, đặc biệt là trong các tình huống khi họ cần được giúp đỡ nhất (theo Johnson cà các cộng sự, 1998).
Mục tiêu của EFFT là tái xử lý các trải nghiệm và tái tổ chức các tương tác để tạo ra các mối gắn kết an toàn giúp các thành viên gia đình tăng cường khả năng điều tiết cảm xúc, giải quyết vấn đề, và giao tiếp (theo Johnson, 1996; Johnson và Lee, 2000). Nói theo cách khác, EFFT sẽ giúp cho việc thiết lập lại sự liên kết giữa các thành viên trong gia đình dễ dàng hơn bằng cách khuyến khích các trải nghiệm cảm xúc và tương tác mới.
Các nhà trị liệu sẽ tạo ra sự thay đổi bằng cách: (1) Nuôi dưỡng một liên minh trị liệu an toàn để thúc đẩy sự tham gia (của thân chủ) vào tiến trình thay đổi, (2) Tiếp cận và mở rộng các phản hồi cảm xúc trong một bối cảnh gắn bó và (3) Tái cơ cấu các tương tác mang tính then chốt (theo Johnson, 2004). Các phương thức can thiệp cụ thể (ví dụ như xác thực, tô đậm trải nghiệm, và tái định khung) giúp các nhà trị liệu làm tròn các nhiệm vụ trên đã được đề cập trong bài báo của Johnson (2004).
Quá trình thay đổi sẽ diễn ra qua nhiều giai đoạn. Giai đoạn thay đổi đầu tiên bao gồm việc làm giảm chu kỳ của chu trình tương tác tiêu cực (theo Johnson, 2004). Mô hình tương tác đeo đuổi-trốn tránh là một mô hình tương tác phổ biến trong EFT. Trong mô hình này, người chạy theo thường sẽ đổ lỗi hoặc công kích người trốn tránh. Người trốn tránh thường ở thế bị động hơn và né tránh người theo đuổi. Leo thang sẽ giảm đi khi người trốn tránh bắt đầu tương tác nhiều hơn còn người đeo đuổi thì bớt phản ứng thái quá hơn.
Giai đoạn thay đổi thứ hai xoay quanh sự tương tác của người trốn tránh (theo Johnson, 2004). Giai đoạn này sẽ diễn ra khi người trốn tránh bắt đầu chấp nhận nhiều rủi ro hơn để bộc lộ các nhu cầu và ý muốn của họ. Họ sẽ tương tác cảm xúc nhiều hơn với người còn lại. Một khi người trốn tránh tương tác nhiều hơn trong mối quan hệ, người đeo đuổi sẽ trở nên mềm mỏng, đồng thời sẵn sàng chịu tổn thương hơn và đưa ra nhiều mạo hiểm về cảm xúc hơn (theo Greenberg và Johnson, 1988). Và sau cùng, người trốn tránh sẽ có khả năng động viên và trấn an người đeo đuổi và ngược lại. Theo đó, nhu cầu gắn bó của mỗi bên sẽ được thoả mãn, dẫn đến các tương tác gắn bó, giao tiếp tốt hơn và giải quyết vấn đề hiệu quả hơn. (theo Johnson, 2004).
CÁC GIAI ĐOẠN CỦA EFT/EFFT
EFT/EFFT bao gồm 9 bước được chia ra làm ba giai đoạn (theo Johnson, 1996). Với mục đích đơn giản hóa, chúng tôi sẽ chỉ tóm tắt ba giai đoạn còn mô tả về 9 bước vốn đã được viết trong rất nhiều nguồn (ví dụ, theo Johnson, 1996; Johnson và Denton, 2002). Tuy các giai đoạn này thường được mô tả theo hướng của các cặp đôi, hoặc các bậc cha mẹ và con cái lớn tuổi, chúng tôi đã có sự điều chỉnh nhỏ trong mô tả để phù hợp với trẻ nhỏ hơn.
Giai đoạn một: Xuống thang chu trình tương tác tiêu cực
Sau quá trình đánh giá và tạo nên mối liên minh trị liệu, giai đoạn đầu tiên chủ yếu tập trung vào việc làm xuống thang/giảm chu trình tương tác tiêu cực giữa cha mẹ và con cái. Trong giai đoạn này, các nhà trị liệu sẽ sử dụng các lăng kính điều tiết cảm xúc và sự gắn bó để theo dõi vòng lặp đã gây ra vấn đề cũng như để tìm hiểu các nhu cầu gắn bó và cảm xúc tiềm ẩn của cha mẹ và con cái. Họ sẽ chú ý đặc biệt đến phương hướng mà cha mẹ và con cái đeo đuổi và trốn tránh lẫn nhau. Sau đó, các vấn đề sẽ được tái định khung dựa theo vòng lặp trên, để có thể nhìn nhận nó mới chính là kẻ thù cho mối quan hệ (theo Johnson và Denton, 2002). Ta lấy một ví dụ, khi một cậu bé Billy sáu tuổi không hoàn thành được một công việc được giao, bé sẽ trở nên bực dọc và đòi mẹ mình phải làm thay. Khi mẹ từ chối, Billy có hành vi đánh mẹ, khiến cho mẹ rời khỏi phòng và nói với bé rằng mẹ chỉ nói chuyện khi bé bình tĩnh lại. Billy chạy theo mẹ rồi đánh mẹ nhiều hơn nữa. Nhà trị liệu cho rằng người mẹ thực sự quan tâm đến Billy và mong con mình tự thành thục được công việc, thay vì làm thay cho con. Nhà trị liệu cũng sẽ tái định khung hành vi của Billy là nỗi sợ vắng bóng mẹ thay vì là sự phản kháng và tức giận. Sau đó, nhà trị liệu đã chỉ ra rằng sự nóng giận và bực tức sẽ làm leo thang các tương tác giữa mẹ và Billy và tự hỏi rằng liệu gia đình có thể đối mặt với các vấn đề trên theo một cách khác hay không.
Giai đoạn hai: Tái định hình các tương tác
Trong giai đoạn thứ hai của quá trình trị liệu, nhà trị liệu sẽ đào sâu hơn vào các nhu cầu gắn bó và hỗ trợ từng thành viên trong gia đình diễn đạt rõ ràng, thừa nhận các nhu cầu đó cùng cảm xúc ứng tương ứng. Đối với trẻ nhỏ, nhà trị liệu cần phải trở thành tiếng nói cho trẻ, và giúp các bậc cha mẹ thấu hiểu các nhu cầu gắn bó và hành vi của trẻ. Sau đó, nhà trị liệu sẽ hỗ trợ cha mẹ trong việc xử lý và chấp nhận trải nghiệm của chính họ và con của họ. Tiếp theo đó, nhà trị liệu sẽ làm việc với những cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu né tránh để tích cực giúp họ tương tác trong mối quan hệ, đồng thời giải toả căng thẳng cho các cha mẹ hoặc con cái thuộc kiểu theo đuổi bằng cách nhấn mạnh những điều dễ bị tổn thương và nhu cầu gắn bó của họ. Một khi các thành viên đã được hỗ trợ để có thể đối mặt với người còn lại dưới một góc nhìn mới, các hoạt động gắn kết sẽ có thể diễn ra để hàn gắn hoặc tạo nên một mối gắn bó an toàn. Theo đó, con cái sẽ cảm nhận được sự thay đổi bên trong mô hình tâm trí bên trong về chính mình và cả cha mẹ. Các bé sẽ nhận định được rằng bản thân mình gây được thiện cảm với người khác và xứng đáng được trấn an, và thấy được rằng cha mẹ là nơi an toàn cung cấp được sự trấn an đó. Trong ví dụ của Billy và mẹ của bé, nhà trị liệu sẽ giúp cho người mẹ thấy được nỗi sợ (về sự thất bại và sau cùng là mất mẹ) đằng sau sự nóng giận, bực bội của Billy và khuyến khích người mẹ ở cùng với Billy thay vì né tránh và phủ nhận sự bực tức và nỗi sợ của mình. Billy được khuyến khích bộc lộ sự bực tức, thứ mà nhà trị liệu diễn giải là nỗi sợ hãi, qua hình thức vui chơi. Sau đó, mẹ và Billy sẽ học được cách điều tiết cảm xúc khác mà không khiến mọi thứ leo thang thành vòng lặp giữa theo đuổi và né tránh. Bằng những cách thức trên, mẹ của Billy sẽ ôm bé để an ủi và động viên khi bé bực tức, ở bên cạnh và giúp bé hoàn thành công việc mà không làm thay cho bé. Hướng đi này sẽ giúp Billy cảm thấy an toàn và bớt bực tức, giúp cho em hoàn thành được việc em làm. Đồng thời, mẹ của bé sẽ đỡ tức giận hơn và ít cảm giác né tránh hơn trước kia.
Giai đoạn ba: Củng cố và Thống hợp
Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ đánh giá và giúp gia đình tạo ra một chu trình tương tác mới. Nhà trị liệu và gia đình sẽ cùng làm việc với nhau để bàn luận về những thay đổi trong tương tác của họ (theo Johnson và Denton, 2002). Các bậc cha mẹ cũng sẽ được hướng dẫn cách giải quyết các vấn đề cụ thể và những tình huống thực tế bằng việc áp dụng mô hình tương tác mới. Trong giai đoạn này, nhà trị liệu sẽ tìm hiểu các phương pháp mà Billy và mẹ của bé đã áp dụng ở nhà khi Billy nổi nóng với việc bé đang làm và cách giúp mẹ con tránh được việc lại sa vào vòng lẩn quẩn đeo đuổi-trốn tránh vốn đang leo thang dẫn đến việc Billy đánh mẹ. Người mẹ đã báo cáo rằng giờ đây mỗi lần Billy nổi nóng, mẹ sẽ ở bên cạnh và bày tỏ cảm xúc với Billy. Rồi cô sẽ hỏi bé mình có thể làm gì để giúp bé hoàn thành việc bé đang làm. Từ đó, mẹ và bé cùng nhau xây dựng nên một phương pháp vui chơi mà ở đó Billy là người dẫn đầu, còn mẹ là người hỗ trợ, cho đế khi cả hai tìm được giải pháp. Hai mẹ con đều có được cảm giác làm chủ mà trong đó Billy là người làm chủ quá trình làm việc gì đó, còn mẹ đóng vai trợ giúp cho bé.
KẾT HỢP EFFT VÀ CÁC KỸ THUẬT CỦA TRỊ LIỆU VUI CHƠI
Mặc dù chúng tôi tin rằng EFFT cung cấp cho ta nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ trên phương diện nhu cầu gắn bó về sự hỗ trợ và an tâm, chúng tôi cũng đã nhận ra rằng áp dụng hình thức trị liệu trò chuyện có thể gặp khó khăn khi làm việc với trẻ nhỏ. Vì vậy, chúng tôi đã kết hợp một số kỹ thuật trong Trị liệu vui chơi với EFFT để áp dụng EFFT cho các gia đình có con nhỏ. Bài viết của Johnson (2004) sẽ đề cập rõ hơn về tổng quan của các phương pháp EFT.

Đánh giá và Theo dõi chu trình tương tác
Theo dõi chu trình tương tác của mỗi gia đình là một trong những điểm quan trọng của EFFT. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với các gia đình có con nhỏ, việc theo dõi chu trình tương tác và hiểu được vị thế của mỗi thành viên có thể gặp khó khăn một phần là bởi họ đang làm việc với hai thế giới khác nhau, thế giới của người lớn và thế giới của trẻ con. Nhà trị liệu chính là cầu nối giữa hai thế giới đó. Để thương lượng với hai thế giới đó, ta có thể áp dụng một số chiến lược khác nhau.
Đầu tiên, nhà trị liệu có thể gặp gỡ các cha mẹ để xác định những mâu thuẫn, vấn đề đang gặp phải và bắt đầu quá trình theo dõi chu trình tương tác của gia đình họ dựa trên lời kể của cha mẹ. Nhà trị liệu sẽ tập trung cách mà các thành viên trong gia đình tương tác với nhau trước những mâu thuẫn. Nhà trị liệu cũng sẽ xác nhận tâm thế của từng thành viên trong gia đình. Điều này rất giống với cách mà con người đánh giá về chu trình tương tác giữa một trẻ vị thành niên và gia đình của em, ngoại trừ trường hợp đứa trẻ không tích cực tương tác.
Một khi nhà trị liệu đã hiểu rõ chu trình tương tác và tâm thế của các cha mẹ, họ có thể bắt đầu xác nhận và thấu hiểu được góc nhìn của đứa trẻ. Quá trình này có thể đạt được thông qua vui chơi tự do và vui chơi theo chỉ dẫn. Trị liệu mối quan hệ cha mẹ-con cái là một phương pháp dựa trên bằng chứng cho thấy việc sử dụng hình thức vui chơi tự do thật sự mang lại hiệu quả cao (theo Guerney và Guerney, 1989). Trị liệu trên hỗ trợ trẻ em vui chơi tự do không theo chỉ dẫn trong khi nhà trị liệu phản ánh lại các trải nghiệm của các em với chính các em. Quá trình này giúp nhà trị liệu bắt đầu việc tham gia cùng đứa trẻ và kiểm tra trải nghiệm của các em. Trong suốt quá trình vui chơi tự do, nhà trị liệu sẽ tìm kiếm những chủ đề nổi bật để có cái nhìn thấu suốt vào góc nhìn của đứa trẻ trong chu trình tương tác, và để xác định được kiểu hình và nhu cầu gắn bó của các em.
Ta lấy một ví dụ, Ann, một bé gái tám tuổi, được cha mẹ đưa đi trị liệu do bé không muốn đi học. Trong một phiên làm việc với cha mẹ, nhà trị liệu nhận ra rằng người bố rất mất kiên nhẫn với Ann vào sáng sớm khi bé không chịu chuẩn bị để có thể đến trường đúng giờ. Người bố càng thúc giục, Ann càng không vâng lời và cuối cùng trốn vào phòng tắm khóc. Nỗ lực nói chuyện với Ann của người mẹ đã khiến em bị lỡ mất chuyến xe buýt đến trường. Điền này đã làm người bố tức đến mức giận dữ lao ra cửa và quát cả mẹ lẫn Ann. Đến lúc này, Ann buồn đến mức không còn chịu đi học. Còn người mẹ thì cảm thấy có lỗi nên đã phải ở nhà với em. Trong một phiên Trị liệu vui chơi tự do, Ann đã sử dụng những con rối để diễn lại tình huống sau: một con chó con (giả làm Ann) tỏ ý không chịu vui chơi, vì nó sợ rằng bố nó sẽ bỏ đi và không bao giờ muốn quay lại nữa. Mẹ cũng có cùng nỗi sợ như vậy. Cho nên nó ra sức an ủi mẹ và bảo với mẹ rằng nó sẽ không bao giờ lớn lên để rồi bỏ đi như thế mà sẽ ở với mẹ đến hết phần đời còn lại (tức là Ann sẽ không chịu đến trường nữa).
Vui chơi theo chỉ dẫn như chơi ngôi nhà búp bê cũng có thể mang lại hiệu quả trong việc thấu hiểu chu trình tương tác bằng cách chơi với búp bê. Sau đó, nhà trị liệu có thể tận dụng cơ hội này để làm rõ vị trí của con búp bê, giúp họ nhận định gián tiếp góc nhìn của các em. Bằng việc quan sát chu trình tương tác được thể hiện thông qua quá trình vui chơi của trẻ, nhà trị liệu có thể hiểu được tâm thế của các em và cách mà các em nhìn nhận các tương tác với cha mẹ mình.
Ngoài vui chơi tự do và theo chỉ dẫn, ta cũng cần phải quan sát hành vi của trẻ trong suốt quá trình xa cách và sum họp với mỗi bậc cha mẹ. Việc quan sát cách phản ứng của trẻ khi cha mẹ rời đi để ngồi trong phòng chờ và khi trẻ quay về với họ có thể cung cấp các thông tin đáng giá về kiểu hình gắn bó của trẻ (an toàn, né tránh, mâu thuẫn, vô tổ chức). Thêm vào đó, ta có thể bắt đầu hiểu được rằng một đứa trẻ sẽ có mô hình tâm trí như thế nào. Ví dụ, khi nói đến mô hình tâm trí, ta cần biết được rằng liệu đứa trẻ đó có xem cha mẹ mình là nơi trẻ tin là có thể đáp ứng được nhu cầu của trẻ và mang đến sự an toàn hay liệu trẻ xem cha mẹ mình là những người thờ ơ về mặt cảm xúc. Trong trường hợp của bé Ann, bé rõ ràng không tin rằng bố mình sẵn lòng dù là về vật chất hay cảm xúc. Mô hình nội tâm của Ann không thể hiện được kiểu hình gắn bó an toàn.
Phương pháp cuối cùng được áp dụng để đánh giá chu trình tương tác được gọi là hình thức vui chơi gia đình có cấu trúc và phi cấu trúc. Nhà trị liệu có thể yêu cầu các gia đình cùng vui chơi trong quá trình họ quan sát những tương tác của các gia đình đó. Nhà trị liệu sẽ quan sát các tương tác giữa các thành viên khác nhau trong gia đình để hỗ trợ đánh giá tâm thế gắn bó của mỗi người (đeo đuổi hay trốn tránh). Các nhà trị liệu cần phải ghi nhớ các câu hỏi sau đây: Cha hay mẹ sẽ vui chơi cùng con hay cả hai? Những đứa trẻ chơi cùng ai trước hay các em tự tách rời ra để chơi một mình? Nếu bọn trẻ có anh chị em, giữa những đứa trẻ và anh chị em của chúng có những tương tác nào? Nếu nhà trị liệu may mắn, gia đình có thể bộc lộ được chu trình tương tác của họ trong ngay khoảng thời gian này. Trong một phiên Trị liệu vui chơi có cấu trúc với gia đình Ann, nhà trị liệu đã hỏi ba thành viên trong gia đình để dựng lên một vở kịch rối có đoạn mở đầu, nội dung chính, và kết thúc. Người mẹ chọn một con mèo, còn người bố thì chọn một con khỉ đột có sắc mặt ủ dột. Theo diễn tiến của câu chuyện, con khỉ đột đã ra sức kiểm soát tình huống bằng cách bảo mèo và chó làm như thế này thế kia. Con chó bỏ chạy, trong khi con mèo thì lại không biết phải thế nào. Khi con khỉ đột quát con mèo thì con chó quay lại để an ủi con mèo vốn đang buồn bã. Sau khi câu chuyện kết thúc, nhà trị liệu phân tích vở kịch bằng việc hỏi các thành viên gia đình với các câu hỏi như: Khi con chó chạy đi thì con mèo và khỉ đột cảm thấy như thế nào? Khi con khỉ đột đánh con mèo thì con chó cảm thấy như thế nào? Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu bạn là con khỉ đột? Đã từng có điều gì tương tự xảy đến với bạn chưa? Và bạn cảm thấy thế nào nếu điều đó xảy ra? Thông qua quá trình này, nhà trị liệu có thể xây dựng các ý tưởng khả thi về những cảm xúc tiềm ẩn của các thành viên trong gia đình.
Tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn
Tiếp cận được những cảm xúc tiềm ẩn là cũng một bước quan trọng trong EEFT. Các thành viên gia đình cần phải học được cách xác định và biểu lộ được những cảm xúc tổn thương mà họ đang cảm nhận được, thường có xu hướng bị che giấu bằng những cảm xúc ít bị tổn thương và ít công khai hơn. Chẳng hạn như, một người bố có thể tỏ vẻ giận dữ với con gái mình khi cô bé về nhà quá giờ giới nghiêm. Tuy nhiên, ẩn sau cơn giận đó, người bố có thể lo sợ về các nguy hiểm tiềm ẩn mà con gái mình có thể gặp phải. Trong ví dụ trên, bé gái có thể sẽ chỉ nhìn thấy cơn giận của bố mình, thay vì nỗi sợ mà người bố đang cảm nhận.
Sau khi đã nhận diện được những cảm xúc tiềm ẩn, ta có thể tận dụng chúng cùng với các nhu cầu gắn bó để mô tả chu trình tương tác mà qua đó cả gia đình tiếp xúc với nhau, điều đã được bàn luận trong phần trước. Trong khi đối với trẻ lớn hơn, những cảm xúc tiềm ẩn được tiếp cận thông qua trò chuyện, thì việc tiếp cận những cảm xúc tiềm ẩn bằng trị liệu trò chuyện với trẻ nhỏ sẽ khó khăn hơn. Một số phương pháp được áp dụng để đánh giá các cảm xúc trên ở trẻ nhỏ hơn sẽ được bàn luận ở phần dưới đây.
Phương pháp “tô màu cuộc sống” có thể được áp dụng để nhận diện các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ (theo Schaefer và O’Connor, 1983). Theo phương pháp này, các nhà trị liệu sẽ yêu cầu các em ghép một màu sắc với một cảm xúc tương ứng (ví dụ như hạnh phúc là màu vàng, giận dữ là màu đỏ, buồn bã là màu xanh, sợ hãi là màu tím). Sau khi trẻ đã đưa ra các cặp ghép đôi màu sắc/cảm xúc có thể thực hành được, thường là tám cặp, các em có thể sử sụng bút màu và giấy để vẽ. Nhà trị liệu sẽ cần phải chỉ dẫn cho các em sử sụng những màu sắc này để thể hiện các cảm xúc của mình. Các nhà trị liệu có thể nói những điều như, “Nếu cháu cảm thấy hạnh phúc trong khoảng một nữa quãng đời của mình thì cháu hãy tô vàng một nửa tờ giấy” (theo Gil, 1994).
Thêm vào đó, một trong những tác giả đã thiết kế ra một dạng trò chơi để nhận diện được các cảm xúc tiềm ẩn ở trẻ nhỏ, được gọi là trò chơi nóng-ấm-lạnh. Trò chơi này đã phát huy được hiệu quả đặc biệt lớn đối với Joey, một cậu bé 7 tuổi, khi em tỏ ra miễn cưỡng khi tham gia trị liệu cùng mẹ, khá né tránh bộc lộ cảm xúc, và gặp khó khăn khi tham gia vào cả Trị liệu vui chơi hay trị liệu trò chuyện. Trong trò chơi này, Joey có thể giữ im lặng còn nhà trị liệu và mẹ của em sẽ đoán xem những gì em có thể đang phải trải qua. Sau đó, Joey sẽ sự dụng phấn màu vẽ lên bảng để cho nhà trị liệu và mẹ em biết được rằng liệu họ có hiểu được cảm giác của em hay không (lạnh là không chính xác, còn nóng là rất chính xác). Trong tình huống này, Joey đã có thể bày tỏ rằng em đang trải qua cảm giác mẹ né tránh mình. Người mẹ sau đó đã bắt đầu hiểu được góc nhìn của Joey.
Hỗ trợ các thành viên gia đình chấp nhận góc nhìn của nhau
Trong quá trình làm việc với cha mẹ và trẻ nhỏ, điều quan trọng là cần phải dùng giai đoạn này trong EFFT để hỗ trợ cho các bậc cha mẹ lắng nghe cũng như hiểu được nhu cầu của con em họ để có được sự an tâm và gắn kết. Một lần nữa, trẻ em thường có xu hướng né tránh bộc lộ nhu cầu tình cảm và gắn bó qua lời nói. Do đó, ta cần phải hỗ trợ cho các bậc cha mẹ hiểu được góc nhìn của con em mình, nhưng phải làm theo cách mà họ không cảm thấy bị đỗ lỗi. Thông qua việc giúp cha mẹ hiểu được góc nhìn của con cái, họ sẽ bắt đầu nhận ra được cách mà các tương tác của họ ảnh hưởng đến con mình như thế nào. Từ đó cha mẹ có thể công nhận những trải nghiệm của con cái và bắt đầu nhìn nhận con cái bằng một góc nhìn khác.
Trong trường hợp của Ann, nhà trị liệu sẽ yêu cầu các thành viên trong gia đình diễn lại vở kịch rối lần lượt với các vai diễn khác nhau. Đầu tiên, người bố sẽ đóng vai chó, mẹ đóng vai mèo, còn Ann thì vào vai khỉ. Sau đó, người mẹ sẽ đóng vai cún, bố đóng vai khỉ đột, còn bé Ann đóng vai mèo. Và cuối cùng, mẹ và bố sẽ đổi vai cho nhau (mẹ vào vai khỉ đột, còn bố vào vai mèo), trong khi Ann vẫn sẽ là chó. Sự thay đổi trong vai diễn giúp cho bố và mẹ đứng ở góc nhìn của Ann để cảm nhận được các phản ứng của em trước các cư xử của bố mẹ, và cũng giúp cho Ann hiểu được góc nhìn của bố mẹ mình.
Vấn Đề Cũ, Giải Pháp Mới
Một khi chúng ta đã làm giảm sự leo thang của vòng lặp tương tác tiêu cực và khi các thành viên gia đình hiểu rõ và chấp nhận góc nhìn của nhau, việc giải quyết vấn đề và thỏa hiệp sẽ mang một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thông qua việc vui chơi và trị liệu, đứa trẻ sẽ truyền đạt được nhu cầu và cảm xúc của bản thân trong khi cha mẹ sẽ hiểu rõ hơn các nhu cầu và mong muốn của con mình. Chính vì vậy, thông qua thảo luận, cha mẹ có thể bắt đầu giải quyết vấn đề và thỏa hiệp với con cái theo các phương hướng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn đó hơn. Ngoài ra, cha mẹ cũng có trao đổi với con cái những cách con cái có thể đáp ứng nhu cầu và mong muốn của mình, chẳng hạn như bộc lộ sự nóng giận hay buồn bã theo các cách phù hợp hơn.
Ann và bố mẹ của em sẽ thương lượng với nhau về các giải pháp mới thông qua vở kịch rối. Khỉ đột sẽ chấp nhận thông cảm hơn với chó và mèo. Khi chó chạy đi, khỉ đột sẽ không la mắng mèo, mà sẽ cùng mèo lo lắng cho chó và cùng nhau đi tìm chó. Để rồi khi tìm thấy chó, chó sẽ vui mừng và ôm chặt lấy mèo và khỉ đột. Cả gia đình củng nhau đi về nhà, trong khi khỉ đột cõng chó con trên lưng mình. Trong quá trình nhà trị liệu phân tích vở kịch với gia đình, người bố cho biết ông đã từng cõng Ann trên lưng do em mệt mỏi vì đi bộ đường dài khi em còn nhỏ. Gia đình sẽ đưa “giải pháp mới” này từ trò chơi kịch rối vào “đời thực” của họ bằng cách thay đổi thói quen mỗi buổi sáng của họ. Bố Ann sẽ dậy sớm hơn một chút và bĩnh tĩnh giúp Ann chuẩn bị đến trường. Tiếp đó, cả gia đình sẽ dành chút thời gian ăn sáng cùng. Khi đã đến giờ đi học, bố sẽ vào vai chú khỉ đột “thân thiện” và cõng “chó con” trên vai mình đến cửa. Sau đó, bố sẽ thả Ann xuống, thơm em, và dẫn em đến xe buýt để đến trường (điều mà bố mẹ từ trước giờ chưa làm vì họ cho là Ann đã “lớn rồi”). Bằng cách này, Ann sẽ cảm thấy an toàn hơn khi di chuyển từ nhà đến trường và nỗi sợ đến trường của bé rồi cũng sẽ nhanh chóng vơi đi.
KẾT LUẬN
Bài báo này đã được viết ra với mục đích phản hồi về tình trạng thiếu hụt nghiên cứu về áp dụng mô hình EFFT cho các gia đình có con nhỏ. EFFT cung cấp cho ta một nền tảng để hiểu được hành vi của con trẻ về nhu cầu gắn bó về sự an ủi và hỗ trợ. Bằng cách kết hợp các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi với khung lý thuyết của EFFT, các nhà trị liệu có thể giúp cho bậc cha mẹ hiểu và đáp ứng được nhu cầu về tình cảm và sự an tâm của con em mình. Các phương thức được bàn luận ở đây chỉ đơn thuần là những gợi ý và chúng tôi khuyến khích những người khác kết hợp thêm các kỹ thuật của Trị liệu vui chơi vào quá trình EFFT của họ để áp dụng cho các trẻ nhỏ và gia đình.
(Quang Thái và Kim Hà dịch; ThS tâm lý Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Axline, V. (1969). Trị liệu giải trí (tái bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Ballatine.
Chethik, M. (1969). Các phương pháp trị liệu cho trẻ em: Các chiến lược tâm lý động lực. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.
Erikson, E. H. (1963). Tuổi thơ và xã hội. Thành phố New York: Nhà xuất bản W. W. Norton.
Gil, E. (1994). Vui chơi trong trị liệu gia đình. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.
Greenberg, L. S., & Johnson, S. M. (1988). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi. Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.
Guerney, L., & Guerney, B. (1989). Cải thiện quan hệ với con cái: Trị liệu gia đình và giáo dục cho cha mẹ. Báo Đánh giá cá nhân, tập 4, trang 344-357.
Johnson, S. M. (2004). Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên sự gắn kết (tái bản lần 2). Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner-Routledge.
Johnson, S. M. (1996). Tạo dựng sự gắn kết: Thực hành trị liệu tập trung cảm xúc trong hôn nhân. Thành phố Florence, Bang Kentucky: Nhà xuất bản Brunner/Mazel.
Johnson, S. M., & Lee, A. C. (2000). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc: Tái định hình sự gắn bó. Tại C. E. Bailey, Sách Trẻ em trong trị liệu (trang 112-133). Thành phố New York: Nhà xuất bản Norton.
Johnson, S. M., & Denton, W. (2002). Trị liệu tập trung cảm xúc cho các cặp đôi: Xây dựng nên các mối gắn kết an toàn. Tại A. S. Gurman, Sách Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi (trang 221-250). Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford.
Johnson, S. M., Maddeaux, D., & Blouin, J. (1998). Trị liệu gia đình tập trung cảm xúc đối với chứng cuồng ăn: Thay đổi các phương thức gắn bó. Báo Trị liệu tâm lý, tập 35, trang 238-247.
Nickerson, E. T. (1973). Các xu hướng và cải tiến mới trong trị liệu giải trí. Báo Tạo chí quốc tế về trị liệu tâm lý cho trẻ em, tập 2, trang 53-70.
Piaget, J. (1969). Cơ chế của sự nhận thức. Thành phố New York: Nhà xuất bản Basic Books.
Schaefer, C. E., & O’Connor, K. J. (1983). Sổ tay trị liệu giải trí. Thành phố New York: Nhà xuất bản Wiley.
White, R. W. (1966). Đời sống biến chuyển (2 bản). Thành phố New York: Nhà xuất bản Holt, Rinehart & Winston.
================
Tạp chí Mỹ về Trị liệu Gia đình, tập 34:trang 333-342, năm 2006
Bản quyền © Taylor & Francis Group, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn
Số ISSN (bản in): 0192-6187 / 1521-0383 (bản online)
Số DOI: 10.1080/01926180600553472
Nhà xuất bản Routledge, công ty Taylor & Francis Group
-
Tác giả: tiến sĩ tâm lý Sue Johnson
Giúp các cặp đôi làm chủ việc giao tiếp, gắn kết và vượt qua mâu thuẫn bằng học thuyết gắn bó
Tóm lược
Tình yêu chinh phục tất cả
- Con người biểu hiện những khuôn mẫu gắn bó đặc thù, thường được hình thành dựa trên các mối quan hệ với người nuôi dưỡng trong thời thơ ấu, mà điều này có khả năng định hình các mối quan hệ bằng hữu và yêu đương trong suốt cuộc đời của họ.
- Khi một ai đó có sự “gắn bó an toàn”, họ cảm thấy tự tin rằng người họ yêu thương sẽ sẵn sàng giúp đỡ, động viên và hồi đáp với họ khi họ cần.
- Nhiều cặp đôi gặp phải khó khăn khi cả hai xa cách nhau về mặt cảm xúc. Trị liệu tập trung cảm xúc giúp họ thu hẹp khoảng cách, trao đổi về nhu cầu và cảm xúc của họ.

Đa phần những đau khổ và niềm vui trong đời ta đều bắt đầu từ một cái nhìn thoáng qua, một nụ hôn và sau đó là cả một đời chật vật định nghĩa động từ “yêu”. Các bệnh nhân có niềm tin rằng bác sĩ của họ có thể nắn lại một cái xương gãy hay kê thuốc để điều chỉnh lại huyết áp cho họ. Tuy vậy, các nhà thơ, triết gia và nhà tâm lý học từ trước đến nay đều xem tình yêu là thứ khó nắm bắt và mơ hồ, mà chúng ta không có khả năng định nghĩa được. Như một đồng nghiệp trẻ của tôi đã từng nói, “Tôi không nghĩ có ai thực sự hiểu được thứ gọi là tình yêu này, kể cả cô cũng không ngoại lệ.” Tình yêu là thứ lộng lẫy trong muôn hình muôn vẻ nhưng cũng đầy bí ẩn. Người ta vẫn hay băn khoăn làm sao mà tôi hay bất kỳ ai khác có thể đưa ra được lời khuyên cho các vấn đề bí ẩn của trái tim?
Từ kinh nghiệm là một nhà nghiên cứu và cố vấn cho các cặp đôi, tôi đã gặp được vô vàn cá nhân tìm cách giải quyết được sự bí ẩn đó. Đã có vô số lần tôi được nghe thấy câu nói này: “Tôi không hiểu mối quan hệ của tôi đang gặp phải vấn đề gì… mà tôi cũng chẳng biết làm thế nào để cứu vãn được nó.”
Trên thực tế, có nhiều phương pháp thực tiễn đã được nghiên cứu khoa học chứng thực giúp con người hiểu và củng cố tình yêu. Trong vài thập kỷ qua, học thuyết gắn bó đã tạo nên một cuộc cách mạng âm thầm. Ví dụ như, chúng ta đã biết rằng các khuôn mẫu hành vi học được từ thời thơ ấu sẽ định hình các mối quan hệ trưởng thành của chúng ta sau này. Ở một mức độ sâu hơn, chúng ta có thể thấy được sự phong phú về mặt tiến hóa và sinh học trong tình yêu và lòng yêu thương; và sự liên kết giữa chúng ta mang lại những ảnh hưởng đo lường được lên cơ thể và sức khỏe của chúng ta. Có lẽ điều thú vị nhất ở dây là chúng ta đã nghiên cứu ra các phương pháp có thể dẫn dắt các cặp đôi đến với các mối quan hệ lành mạnh hơn. Ở một góc độ nào đó, khoa học về gắn bó, vốn từng chỉ tập trung vào sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái, giờ đây đã tiến đến tuổi “trưởng thành” và làm sáng tỏ được vô số những dấu hiệu mạnh mẽ thấy được ở các cặp đôi hạnh phúc.
Con người có nhu cầu biết được những điều này. Chẳng hạn, trong một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew được xuất bản vào năm 2012, 84% số người tham gia nhận định hôn nhân là một cột mốc cuộc đời rất quan trọng. Và một cuộc khảo sát Pew công bố vào năm 2010 đã cho thấy rằng đa số người tham gia cho rằng tình yêu là nền móng của hôn nhân. Phần nhiều trong số họ đồng quan điểm với nhà tâm lý học Robert Waldinger đến từ Trường Y học Harvard, rằng công thức hiệu quả nhất để có được niềm vui, sức khỏe và cuộc đời tươi đẹp chính là một mối quan hệ bền chặt. Xuất phát từ những quan niệm như vậy, các vấn đề về quan hệ thời nay là lý do hàng đầu thôi thúc các cá nhân tìm kiếm sự trợ giúp từ các chuyên gia về sức khỏe tâm lý như chính tôi.
Qua nhiều năm, học thuyết gắn bó đã tiến bộ đến mức có thể cho chúng ta một cái nhìn cụ thể về thói quen của tình yêu để củng cố các mối quan hệ ở người trưởng thành – kể cả các mối quan hệ lãng mạn đầy thách thức. Trong nghiên cứu của tôi, tôi đã phát triển và thử nghiệm một phương pháp trị liệu có khả năng dẫn dắt các cặp đôi đi đến các mối quan hệ bền chặt và hỗ trợ nhau hơn. Các nghiên cứu mới nhất đã xác thực và cũng đồng thời phản bác một số quan niệm ấp ủ lâu nay của chúng ta về bản chất của tình yêu. Quan trọng hơn hết, các nghiên cứu trên thực chất có rất nhiều điều để chỉ ra cho chúng ta về cách chủ động định hình để củng cố các mối quan hệ lãng mạn của chúng ta.
Tình mẫu tử
Trong phần này, chúng ta sẽ xét đến sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Trong phần lớn thế kỷ 20, chúng ta đều đã gạt bỏ đi nhu cầu về sự gắn kết an toàn của trẻ em đến mức các bậc cha mẹ thường có thói quen bỏ con cái bị ốm của họ tại bệnh viện để người lạ mặt chăm sóc mà không cân nhắc rằng liệu như vậy có để lại tổn thương cho trẻ hay không. Các chuyên gia về sức khỏe tâm lý đã ủng hộ các lý thuyết cho rằng những gia đình bất hòa là hệ quả của việc gần gũi quá mức mà không đủ xa cách. Việc chia cách cha mẹ ra khỏi con cái đã được coi là yếu tố cần thiết trong việc xây dựng tính mạnh mẽ (cho trẻ).
Những sai lầm trong kiểu suy nghĩ như vậy là lý do bắt đầu cho chuỗi thí nghiệm của hai nhà tâm lý học John Bowlby và Mary Ainsworth cách đây nửa thế kỷ. Trong nỗ lực giải mã sự gắn kết giữa con người, họ đã quan sát các hành động tương tác giữa những người mẹ và đứa con sơ sinh của họ, và sau đó quan sát sự thay đổi hành vi khi hai bên bị chia cách với nhau trong một môi trường lạ lẫm.
Các thí nghiệm “tình huống lạ” này đã cho thấy rằng một số hành động tương tác giữa mẹ và con đúng như dự đoán đã tạo ra các hành vi bình tĩnh và tích cực ở đứa trẻ, trong khi các tương tác khác thì không mang lại kết quả như vậy. Như được nhận định trong cuốn sách “Gắn bó và Mất mát” viết vào năm 1969 của tác giả Bowlby, các tình huống như vậy có thể làm sáng tỏ các khuôn mẫu trong cách trẻ em thể hiện hành vi mà có liên quan đến sự gắn bó với mẹ của chúng. Bà Ainsworth sau đó đã xác định ba “kiểu” cơ bản của thuyết gắn bó để giải thích các đặc tính trên.
Chia cách, nhìn chung, sẽ gây ra sự lo âu. Tuy nhiên, đối với một số trẻ, bản chất về sự gắn kết giữa các em với mẹ của mình đã ở một mức độ giúp các em không cảm thấy hoảng sợ khi đi một mình. Thay vào đó, các em lại có cảm giác tò mò và có khả năng khám phá các môi trường mới lạ mà không cảm thấy sợ hãi. Các bậc cha mẹ trong những kiểu quan hệ này đã truyền lại lòng yêu thương và chăm sóc của mình một cách rõ ràng, và con cái họ nhận được cảm giác yên ấm dưới sự quan tâm của họ. Theo bà Ainsworth, kiểu gắn bó này được gọi là “an toàn”. Những đứa trẻ có tâm an tĩnh sẽ biểu hiện sự cân bằng về cảm xúc, sự tự tin, cùng với khả năng khám phá và học hỏi. Các em cảm thấy rằng cha mẹ mình đã tạo ra cho mình một mái ấm an toàn, và kết quả là các em đã trở nên mạnh mẽ, có thể cởi mở kết nối với người khác khi các em lớn lên.
Tuy nhiên, những đứa trẻ sơ sinh khác lại biểu hiện một nhóm hành vi đặc thù khác với các em kể trên. Các em “gắn bó trong bất an, lo lắng” có tiền sử bị ngập chìm trong nỗi đau khổ và sự mông lung vì bị chia cách. Bậc cha mẹ của những đứa trẻ này khi tham gia vào các cuộc thử nghiệm hay có xu hướng khó tiếp cận, kiệm lời, và ít chú tâm hơn. Phản ứng cảm xúc của các em rất dữ dội. Các em chuyển từ nóng giận sang hoảng sợ khi gọi cha mẹ mình đến, và khi được mẹ vỗ về, các em bám chặt lấy mẹ, như thể vẫn chưa dám tin rằng mọi chuyện trên thực tế đã ổn.
Một nhóm khác gồm những đứa trẻ thuộc kiểu gắn bó bất an thì lại biểu hiện rất ít cảm xúc khi mẹ của các em rời đi hay quay lại. Thay vào đó, các em này chỉ tập trung vào những món đồ chơi và đồ vật xung quanh. Các em không đòi bố mẹ, cũng không có phản ứng gì khi được mẹ vỗ về. Các em né tránh bất cứ sự gần gũi nào. Nghiên cứu sau đó đã chỉ ra rằng nhiều thành viên trong những đứa trẻ “tránh né” này cũng có mức độ nóng giận ngang bằng với nhóm bất an trước nhưng lại rất giỏi trong việc kìm lại phản ứng của chính mình, khả năng rất lớn là hệ quả của việc dạy con mà không tương tác với con hay thậm chí là liên quan đến bạo hành. Các em không có kỳ vọng nào về sự gắn kết an toàn.
Đến những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nhận ra rằng những khuôn mẫu này có thể hình thành nên các mối quan hệ ở tuổi trưởng thành – bao gồm các mối quan hệ yêu đương. Các phản ứng có liên quan đến mỗi kiểu gắn bó trở sẽ trở thành thói quen khi chúng ta lớn lên cũng như có thể định hình xu hướng mà chúng ta suy nghĩ và cảm nhận về bản thân khi trong mối quan hệ với người khác. Chẳng hạn như chúng ta có thể gặp khó khăn trong việc tin tưởng người khác khi không thể dựa dẫm vào cha mẹ mình. Việc thiếu đi sự quan tâm từ thuở nhỏ có thể khiến một số người băn khoăn về việc liệu mình có xứng đáng được người khác quan tâm hay không.
Cũng như trí nhớ cơ bắp, những hành vi này sẽ trỗi dậy khi chúng ta bị tổn thương trong các mối quan hệ yêu đương. Những người bạn đời kiểu gắn bó an toàn thường có xu hướng tạo ra các mối quan hệ lành mạnh hơn và nhìn chung có sức khỏe tâm lý tốt hơn. Họ có kỳ vọng được hồi đáp và yêu thương. Những người bạn đời có kiểu hình gắn bó bất an sẽ có sự cảnh giác cao độ với việc bị từ chối và hay có xu hướng theo đuổi đối phương với nhiều đòi hỏi tình cảm quyết liệt. Những cá nhân thuộc nhóm gắn bó tránh né sẽ quay lưng với người yêu của họ, đặc biệt là khi họ hoặc người yêu của họ cảm thấy bản thân có khả năng bị tổn thương, họ sẽ gạt bỏ đi nhu cầu gắn bó của chính họ và người yêu của họ.
Quả vậy, một nghiên cứu dài hạn được xuất bản vào năm 2007 bởi các nhà tâm lý học đến từ Đại học Minnesota đã xác định tính lâu dài của các khuôn mẫu trên. Nhóm nghiên cứu làm việc với 78 người trẻ ở độ tuổi trưởng thành vốn đã được nghiên cứu từ thời sơ sinh. Trong nghiên cứu, những người có biểu hiện kiểu gắn bó an toàn có khả năng hòa nhập với xã hội tốt hơn ở thời tiểu học so với những người thiếu gắn bó kiểu trên. Khả năng hòa nhập đó lại dự báo trước các mối quan hệ lành mạnh hơn ở tuổi thiếu niên – và những mối quan hệ xã hội bền chặt hơn ở độ tuổi 16 liên thường gắn liền với các mối quan hệ tình cảm tốt đẹp hơn khi những người tham gia bước vào khoảng độ tuổi từ 20 đến 23. Trong khi đó một nghiên cứu khác đã chỉ rõ rằng những người tiếp xúc với tình trạng bạo lực và những bất ổn nghiêm trọng khác trong mối quan hệ từ thuở nhỏ không chỉ phát triển kiểu hình gắn bó bất an mà còn dễ mắc phải các vắn đề về tâm thần và lặp lại vòng bạo hành lẩn quẩn khi trưởng thành.
Các kiểu hình bất an và tránh né đã hằn sâu thường hay có xu hướng gieo rắc sự chia cách và lo âu trong mối quan hệ, khiến cho bên còn lại cảm thấy khó khăn hơn trong việc duy trì sự đồng điệu và phản hồi. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn hy vọng. Một loạt các nghiên cứu mới nhất, mà trong đó có sự tham gia của tôi, đã tìm hiểu về các phương pháp điều chỉnh những hành vi trên và phương thức mà các phương pháp trên có thể thực sự thay đổi cuộc đời.
Mọi thứ tốt đẹp hơn khi ta bên cạnh nhau
Tôi đã bắt đầu nghiên cứu học thuyết gắn bó từ những năm 1980. Trong khoảng thời gian đó, tôi đã gặp gỡ những cặp đôi trong quá trình trị liệu và khi tôi biết được tình thế tiến thoái lưỡng nan, những nhu cầu và cả những nỗi sợ hãi kinh khủng của họ, tôi đã bắt đầu tức tốc tìm ra một hướng đi để hiểu được sự khó khăn họ gặp phải. Trong khi tích lũy những hiểu biết đang dần rõ nét về thuyết gắn bó ở người trưởng thành, tôi và các cộng sự của mình đã phát triển phương pháp trị liệu tập trung cảm xúc (EFT) như một liệu pháp ngắn hạn được xây dựng dựa trên học thuyết này.
Để hiểu được cách hoạt động của EFT, đầu tiên chúng tôi cần phải xem xét đến nguyên lý chủ chốt của học thuyết gắn bó. Cụ thể hơn, tình yêu mà chúng ta cảm nhận được từ người khác sẽ để lại tác động to lớn lên chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh thần. Vài nghiên cứu đã chứng thực kết luận trên trong những năm gần đây.
Một thí nghiệm then chốt được xuất bản vào năm 2006 bởi ông James A. Coan, nhà khoa học thần kinh đến từ Đại học Y tế bang Virginia, đã mời 16 phụ nữ đã kết hôn sử dụng máy chụp cộng hưởng từ và đặt họ trước nguy cơ bị sốc điện dưới ba tình huống khác nhau: nắm tay chồng, nắm tay một người đàn ông lạ mặt hoặc nằm một mình trong máy. Ở mỗi tình huống, một dấu X lớn sẽ xuất hiện trước mắt những người phụ nữ này để cảnh báo họ rằng cú sốc điện sắp xảy ra. Cú sốc điện chỉ xảy ra trong 20% thời gian thí nghiệm.
Ông Coan quan sát được rằng việc vợ chồng nắm tay nhau đã làm giảm đáng kể mức độ kích hoạt của hệ thống thần kinh trong bộ não có liên quan đến phản ứng trước các mối đe dọa về cảm xúc và hành vi, chẳng hạn như thùy đảo phải, hồi trán trên và vùng dưới đồi. Hành động này cũng đã làm giảm đi mức đau đớn nhận được từ cú sốc điện nói trên. Tuy nhiên, việc nằm một mình hoặc nắm tay người lạ lại không đem đến bất kỳ lợi ích đáng kể nào. Hơn thế nữa, dựa theo khảo sát từ bảng câu hỏi, những người tham gia có cuộc hôn nhân hỗ trợ nhau nhiều hơn dường như lại ít cảm thấy đau nhất.
Phát hiện của ông Coan là một trong nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện của người thân có thể điều tiết được các phản ứng sinh lý thần kinh, chẳng hạn như nhịp tim và quá trình giải phóng các hoóc-môn gây căng thẳng. Đáng chú ý, hàng loạt các nghiên cứu được xuất bản năm 2012 đã cho thấy rằng ngay cả việc chỉ tưởng tượng về người mà bản thân có gắn bó cũng có thể mang lại những tác dụng sâu rộng. Trong công trình này, một nhà tâm lý học đến từ Đai học Cornell vào thời đó, ông Emre Selcuk, cùng các cộng sự của ông, đã khuyến khích 105 người phụ nữ xác định kiểu gắn bó của mình qua một bảng câu hỏi. Những người tham gia sau đó đã viết chi tiết về hai ký ức sâu đậm và gây phiền muộn cho bản thân. Với mỗi câu chuyện, họ tạo ra từ một đến ba từ khóa kích hoạt cảm xúc và luyện tập việc nhớ lại các cảm xúc liên quan đến các khoảnh khắc trên chỉ qua việc sử dụng các từ gợi nhớ đó. Tiếp theo, Selcuk yêu cầu những người phụ nữ nhớ lại các ký ức trên trong khi tưởng tượng bản thân đang được nhận được sự trấn an từ mẹ hoặc một người thân của họ. Sau đó, những người phụ nữ này sẽ đánh giá phản ứng cảm xúc của bản thân về mức độ tích cực hoặc tiêu cực mà họ cảm thấy trên thang điểm từ 1 đến 7, với mức 1 là không có gì, và mức 7 là cực đại. Trong trường hợp của những người có kiểu hình gắn bó an toàn, việc tưởng tượng về mẹ thay vì người quen đã giúp họ gạt đi được nỗi đau và sự u buồn từ ký ức bất hạnh. Trong phiên bản thứ hai của thí nghiệm này, Selcuk thấy rằng kết quả trên cũng sẽ xảy ra khi người tham gia nhìn vào ảnh chụp của mẹ mình, nhưng không phải là ảnh mẹ của người khác. Hai thí nghiệm trên chỉ rõ rằng chúng ta có thể nhận được sức mạnh cảm xúc to lớn chỉ đơn thuần từ việc nghĩ về những người mà ta gắn bó.
Trong phiên bản thứ ba của thí nghiệm trên, Selcuk và các đồng nghiệp của ông đã yêu cầu 30 cặp đôi nhìn vào ảnh người yêu của mình khi đang nhớ lại một trải nghiệm khó khăn. Đúng như dự đoán, những người có kiểu gắn bó an toàn nhận được nhiều lợi ích hơn so với những người còn lại trong thí nghiệm. Tuy nhiên, đáng chú ý là các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người phục hồi nhiều hơn về mặt cảm xúc lại có sức khỏe tốt hơn, dựa trên các quan sát sau đó một tháng. Ví dụ, họ cảm thấy ít đau đớn, lo lắng hơn và khả năng nghỉ việc vì lý do sức khỏe cũng thấp hơn.
Phát hiện trên chỉ là sự tương quan, cho thấy được mối liên kết giữa sức khỏe thể chất và một mối quan hệ lành mạnh nên nó không thể chứng minh rằng một yếu tố có thể dẫn đến cái còn lại. Tuy vậy, phần nhiều các nghiên cứu về thuyết gắn bó cho rằng các mối quan hệ lành mạnh sẽ giúp chúng ta sống khỏe mạnh. Do đó, việc vun đắp những mối quan hệ đặc biệt đó có thể giúp chúng ta vượt qua được những bất trắc trong đời, và điều đó chắc chắn sẽ giúp chúng ta sống khỏe mạnh hơn về mọi mặt.
Theo quan điểm đó, các mối quan hệ của chúng ta là một phần trong chức năng sinh tồn của giống loài chúng ta. Kiểu gắn bó an toàn giúp cho chúng ta cảm thấy yên tâm và cũng là một cách để duy trì sự cân bằng khi đối mặt với nguy hiểm. Những sự gắn bó trên giúp chúng ta chịu đựng và đương đầu với sự yếu mềm rất con người trong bản thân chúng ta. Và khi chúng ta xem những người xung quanh là nơi ta có thể đặt niềm tin vào, góc nhìn này về cơ bản sẽ thay đổi nhận thức của chúng ta về hiểm nguy, thảm họa và đau đớn. Câu nói cũ rích ta vẫn hay nghe, “tình yêu khiến cho ta mạnh mẽ hơn”, có vẻ chẳng sai chút nào.
Giúp các cặp đôi kết nối với nhau
Vấn đề thường gặp nhất ở các mối quan hệ là tình trạng mất liên kết về mặt cảm xúc. Chẳng hạn, mâu thuẫn có thể khiến một người trở nên lầm lũi hoặc không mở rộng lòng mình với đối phương. Kết quả là một bên sẽ tạo ra sự xa cách về mặt cảm xúc với bên còn lại. Sự xa cách đó sẽ làm dấy lên tâm lý lo lắng về việc chia cách – cũng giống thí nghiệm tình huống người lạ – và hậu quả là đem lại hàng loạt sự phản kháng, bám víu và đau khổ cho người cảm thấy bị bỏ rơi. Nghiêm trọng hơn, những tình huống này có thể dẫn đến một vòng luẩn quẩn: sự xa cách cảm xúc sẽ khiến một bên trở nên oán giận hoặc vô vọng và càng đẩy bên kia ra xa hơn.
Ngay giữa lúc như vậy, những hành vi trên thoạt nhìn có thể giống như những cãi vã nhỏ nhặt, thường bắt nguồn từ một vấn đề hết sức tầm thường. Tuy nhiên, thuyết gắn bó đưa ra rằng những cuộc tranh cãi đó thực chất có thể là những nan đề hình thành từ sự mất kết nối. Mối đe dọa từ việc cô lập cảm xúc có thể dẫn đến phản ứng giận dữ (như khi một bên tuyên bố rằng, “Tôi sẽ khiến anh phải trả lời tôi”) hay là thái độ thờ ơ vô cảm (như khi nói rằng, “Tôi chẳng bao giờ làm cô hài lòng được, nên tôi sẽ giả điếc và cho cô ra rìa”).
Trong nghiên cứu của tôi, tôi đã nhận ra rằng những sự bột phát trên chủ yếu xoay quanh nỗi đau bắt nguồn từ việc xa cách cảm xúc và nỗ lực tai hại trong việc thu hẹp khoảng cách hơn là chính bản thân sự mẫu thuẫn hay thậm chí là sự khác biệt trong tính cách. Góc nhìn này phản bác lại quan niệm cho rằng tình yêu là thứ mà chúng ta dễ dàng rơi vào và cũng dễ dàng bước ra. Thay vì vậy, học thuyết gắn bó gợi ý rằng tình yêu là thứ mà chúng ta có thể kiểm soát – miễn là chúng ta hiểu được bản chất của sự gắn bó là gì.
Vì vậy, mục tiêu đầu tiên của phương pháp EFT là giúp cho các cặp đôi thấy được lý do họ bị cuốn vào một điệu nhảy lặp đi lặp lại của sự xa cách về cảm xúc, kích động đối phương hoặc là thúc ép hồi đáp một cách gay gắt hoặc là thu mình lại rồi đóng kín cảm xúc. Kết quả là, họ sẽ có một góc nhìn rộng hơn về tình yêu, để thấy được làm thế nào mà những điểm dễ bị tổn thương của họ được kết nối với não bộ như liên kết cặp giữa động vật có vú, và để giúp nhau thoát ra khỏi “những cuộc đối thoại độc hại lặp lại” làm họ bị cô lập và bất lực. Mục tiêu thứ hai là giúp cho họ nghĩ về các trải nghiệm tích cực của sự gắn bó an toàn khi họ cần được liên hệ hay hỗ trợ. Nói cách khác, chúng tôi cần phải cho họ biết được cách gắn bó thông qua việc cả hai cùng trò chuyện để xác định và chia sẻ về những nỗi lo cụ thể trong việc gắn bó và các nhu cầu để hai bên tiến gần đến nhau. Các bên trong những cuộc trò chuyện gắn bó trên có thể chia sẻ cởi mở về nỗi sợ bị từ chối hoặc cô đơn và sau đó yêu cầu sự an ủi để bên kia có thể dễ dàng hồi đáp lại. Tôi và các đồng nghiệp của mình đã quan sát và dùng phương pháp sắp xếp các bước trò chuyện để đánh giá mức độ chia sẻ cảm xúc và phương hướng mà các bên tiếp xúc và hồi đáp với nhau. Cách tiếp cận như vậy đã giúp chúng tôi xác định những khoảnh khắc then chốt giúp tạo ra sự gắn kết thành công và cũng như những khoảnh khắc khi quá trình điều chỉnh và hồi đáp trên bị gián đoạn.
Như chúng tôi đã nhận định trong một bài đánh giá vào năm 2013, các quá trình quan sát của chúng tôi đã đưa ra nhiều chỉ dẫn về thời điểm và cách thức mà phương pháp EFT hỗ trợ các cặp đôi trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Không phải bất cứ ai cũng có được sự cải thiện, tuy nhiên, những người làm được đều chia sẻ các điểm tương đồng. Chẳng hạn như chúng tôi đã nhận thấy rằng phương pháp EFT mang lại lợi ích cho các cặp đôi khi họ sẵn sàng bỏ thời gian trong quá trình trị liệu để đào sâu, khám phá về các trải nghiệm cảm xúc và chia sẻ nhiều hơn về quan điểm của họ. Những cá nhân giảm bớt khuynh hướng đổ lỗi cũng biểu hiện được sự hài lòng về việc cải thiện quan hệ sau phiên trị liệu. Sự kết hợp giữa sự thân thuộc, tính dễ bị tổn thương cùng cái nhìn bao dung hơn có vẻ là yếu tố quan trọng.
Giai đoạn trên của quá trình trị liệu cũng giúp các cá nhân củng cố bộ ba kỹ năng then chốt trong mối quan hệ: tiếp cận, phản hồi và gắn kết. Tiếp cận đề cập đến việc chúng ta rộng mở và sẵn sàng hướng đến người khác. Phản hồi là khả năng nhận biết và đáp lại các tín hiệu cảm xúc của đối phương. Gắn kết là khả năng ở bên và đồng điệu với cảm xúc của người còn lại và duy trì sự thân mật. Trong môi trường lâm sàng, chúng ta sẽ thấy được những phẩm chất trên được gắn với các câu hỏi thường ngày như: “Anh có còn tình cảm với em không?” Dưới một mức độ cơ bản, khi con người biết rằng câu trả lời cho câu hỏi trên là một từ “Có” đầy cảm xúc, họ sẽ tạo được một sự gắn kết an toàn.
Phá vỡ khuôn khổ
Hiện nay, phương pháp EFT là tiêu chuẩn vàng đã được kiểm chứng khi can thiệp vào các cặp đôi được thử nghiệm. Tuy không phải là phương pháp duy nhất được áp dụng bởi các nhà trị liệu cho các cặp đôi, EFT vẫn mang lại sự độc đáo trong việc tích hợp với học thuyết gắn bó. Một số nhà tâm lý học tận dụng các phương pháp về hành vi với mục đích giải quyết các triệu chứng của sự phiền muộn, chẳng hạn như tình trạng đổ lỗi cho nhau, bằng cách hướng dẫn các kỹ năng như tích cực lắng nghe và trao đổi bằng lý lẽ. Tuy nhiên, ít có phương pháp nào có cơ sở bằng chứng mạnh mẽ như EFT. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã chứng thực phương pháp trên qua vô số các nghiên cứu, đề cập đến nhiều kiểu cặp đôi và vấn đề về mối quan hệ khác nhau.
Đề cập đến một trong những kết quả đáng chú ý nhất của chúng tôi trong hiện nay, chúng tôi đã thấy được rằng phương pháp EFT có thể thay đổi đáng kể kiểu gắn bó của một người. Vào năm 2016, chúng tôi đã công bố một thí nghiệm gồm 32 cặp đôi đang đau khổ tham gia vào 20 phiên trị liệu bằng phương pháp EFT. Khởi đầu của nỗ lực này, tất cả những người tham gia đều nhận định rằng họ không cảm thấy hạnh phúc với bạn đời của mình. Hơn nữa, họ đều đã cảm thấy xa cách về cảm xúc với nhau trong một thời gian dài, và do vậy đã mất đi khả năng tâm sự với nhau hoặc không thể đặt niềm tin vào nhau khi vấn đề ập đến.
Không chỉ yêu cầu những người than gia tự đánh giá chính mình qua các bảng câu hỏi, chúng tôi còn khuyến khích bàn luận về một mâu thuẫn nhất định trong quan hệ vào thời điểm đầu và cuối phiên trị liệu. Qua việc tận dụng những thông tin trên, chúng tôi xác định kiểu gắn bó của họ. Tuy bắt đầu tiến trình trị liệu với kiểu gắn bó là bất an (thuôc dạng lo âu hoặc né tránh), các cặp đôi đã xếp mình vào kiểu gắn bó an toàn hơn vào cuối tiến trình trị liệu. Họ đã tiếp cận, phản hồi và gắn kết với nhau về mặt cảm xúc. Họ cũng đã thấy được rằng họ có thể thỏa mãn được nhu cầu gắn kết của nhau. Một nghiên cứu bổ trợ được công bố vào năm nay đã cho thấy rằng các cặp đôi này vẫn giữ được sự gắn bó tình cảm và an toàn với nhau.
Những nghiên cứu trên đã cho thấy rằng các khuôn mẫu gắn kết mà ta học được từ thời thơ ấu hoàn toàn không mang tính bất biến. Chúng ta có thể thay đổi được các khuôn mẫu ấy để cải thiện chính bản thân mình. Hơn thế nữa, đây rõ ràng là một quá trình có giá trị rất lớn. Nghiên cứu của chúng tôi còn gợi lên rằng khi phương pháp EFT cải thiện được chất lượng của các mối quan hệ yêu đương, nó không chỉ cải thiện mỗi lo âu từ các sự mâu thuẫn giữa các cặp đôi mà còn củng cố khả năng vượt qua nỗi lo âu của cả hai. Ví dụ, trong một bài nghiên cứu vào năm 2013, chúng tôi đã yêu cầu 24 cặp đôi tham gia vào hoạt động chụp ảnh chuẩn đoán thần kinh và tận dụng các phương pháp từ thí nghiệm nắm tay của ông Coan. Chúng tôi đã thấy được rằng, việc nắm tay người chồng đã không làm vơi đi nỗi sợ hãi hay cơn đau của những người phụ nữ trước cú sốc điện. Tuy vậy, sau phiên trị liệu, hoạt động đã phát huy được tác dụng.
Các đội ngũ khác cũng đã xác nhận rằng những cải thiện trong chất lượng mối quan hệ mà phương pháp EFT mang đến được cũng giúp củng cố sức khỏe một cách sâu rộng hơn. Trong một cuộc nghiên cứu thí điểm vào năm 2017 được thực hiện tại Trung tâm Y tế Baltimore VA, với sự tham gia trong 36 tuần trị liệu EFT của mội cựu chiến binh mắc phải tình trạng sang chấn tâm lý, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng cặp đôi của người cựu chiến binh đã biểu hiện được sức khỏe tâm lý tốt hơn sau phiên trị liệu và cùng với đó, người cựu chiến binh đã cảm nhận được sự suy giảm đáng kể trong các triệu chứng rối loạn của họ.
Liệu pháp EFT mang đến cho người tham gia những kỹ năng để định hình và giữ lửa cho tình yêu của họ. Liệu pháp đã chứng minh được phương thức mà học thuyết mới về sự gắn bó có thể được sử dụng để dẫn dắt trong việc chữa lành và duy trì các mối quan hệ. Tuy tình yêu vẫn luôn là một điều kỳ diệu, chúng ta giờ đã có thể định nghĩa được cái nhìn tổng thể về sự gắn kết cảm xúc này và thấu hiểu được bản chất của nó. Chính sự hiểu biết này là một phép màu trong một bức tranh đa sắc rực rỡ của các nghiên cứu mà giới khoa học đã khuyên chúng ta theo đuổi không chỉ vì một mối quan hệ lâu dài mà còn để trở nên khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn và có được cuộc sống viên mãn hơn. Sau tất cả, các mối quan hệ sâu sắc nhất của chúng ta sẽ nâng đỡ chúng ta giữa những thời điểm khốn khó. Như ông Mozart đã từng nói dựa theo quan sát của chính mình, “Tình yêu bảo vệ trái tim trước vực thẳm tăm tối”. Câu nói trên không chỉ đơn thuần là thơ phú.
Quang Thái và Kim Hà dịch, Hiếu Thuận hiệu đính
————————
Đặt hẹn tham vấn tâm lý dành cho cặp đôi/vợ chồng: https://tuhochanhphuc.com/dat-hen-tham-van/
Lớp học về phương pháp Trị liệu tập trung cảm xúc (EFT) nền tảng dành cho các nhà chuyên môn: https://tuhochanhphuc.com/lop-hoc-tri-lieu-tap-trung-vao-cam-xuc-eft-nen-tang/
Lớp học EFT nền tảng dạng tự học qua video thu lại: https://tuhochanhphuc.com/tri-lieu-tap-trung-cam-xuc-nen-tang/
-

THÔNG TIN TỔNG QUAN
Nhóm Gặp Gỡ là chuỗi sinh hoạt bối cảnh nhóm hướng đến rộng rãi người tham dự công chúng, được dự án Tự Học Hạnh Phúc khởi xướng với ấp ủ tạo một không gian tâm lý an toàn với các “dưỡng chất” của sự chân thật, chấp nhận, và thấu cảm dành cho bản thân và người khác, dựa trên tinh thần của tiếp cận Nhân vị trọng tâm (Person centered approach) do nhà tâm lý học Carl Rogers sáng lập; qua đó hy vọng góp phần hàm dưỡng sự lành mạnh tâm lý cho cá nhân và cộng đồng. Dự án này cũng được truyền cảm hứng từ dự án Nhóm Gặp Gỡ – PsychoSynaptic của nhóm Nhân vị trọng tâm Việt Nam từng tổ chức ở khu vực miền Bắc, với mong mỏi đem được tinh thần ấy đến khu vực miền Nam.
NHÓM GẶP GỠ LÀ GÌ?
Nhóm Gặp Gỡ (encounter groups) là một cuộc… gặp gỡ và thảo luận nhóm nơi các tham dự viên cùng nhau khám phá ý nghĩa của những suy nghĩ, cảm xúc và trải nghiệm được khơi mở và nảy sinh giữa họ và bên trong chính họ vào thời điểm cuộc gặp diễn ra. Khía cạnh thú vị của nhóm gặp gỡ được khởi xướng bởi nhà tâm lý học của trường phái Nhân văn – Carl Rogers – đến từ việc những người tham gia và cả các “điều phối viên” (facilitators) không vận hành nhóm theo bất kỳ sự điều hướng hay cấu trúc định sẵn nào, cũng như không có bất kỳ quy tắc, lề luật nào phải tuân theo. Nói một cách khác, Nhóm Gặp Gỡ mang tính phi điều hướng và phi cấu trúc. Thay vào đó, nhóm có thể tạo ra trải nghiệm theo cách mà những người có mặt trong nhóm thực sự mong muốn nó là và thực sự cảm thấy có ý nghĩa với riêng họ. Hướng diễn tiến của mỗi nhóm gặp gỡ là độc đáo, duy nhất và phát triển như một sinh thể hữu cơ. Nói theo ví von của Rogers, là như một hạt mầm triển nở thành một cái cây; không hạt nào (trở thành cái cây) giống hạt nào.

MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM CỦA MỘT NHÓM GẶP GỠ

Nhóm Gặp Gỡ không có một chủ đề cụ thể được định sẵn, không có sự thuyết trình hay hướng dẫn đơn chiều đến từ một chuyên gia hay một người dẫn dắt nào nhằm mục đích giúp tham dự viên đạt được mục tiêu mong đợi nào về kiến thức, kỹ năng hay trải nghiệm. Thay vào đó, Nhóm Gặp Gỡ không có chủ đề hay cấu trúc định sẵn, thế nên mỗi cuộc gặp gỡ là duy nhất và không có cách nào hình dung trước nó sẽ thực sự diễn ra điều gì và như thế nào, cho đến khi tham dự viên tự trải nghiệm cuộc gặp gỡ ấy. Một trong những điều thường xảy ra, có thể đoán trước được là, Nhóm Gặp Gỡ sẽ bắt đầu bằng sự im lặng, đôi khi kéo khá lâu; và bất kỳ ai trong nhóm cũng có thể phá vỡ sự im lặng này bằng việc cất lên tiếng nói cho điều bản thân cảm thấy có ý nghĩa với chính mình. Sau khi ai đó phá vỡ sự im lặng, những người tham gia còn lại trong nhóm có thể phản ứng theo bất kỳ cách nào họ cảm thấy thích và muốn, và phản ứng dây chuyền có thể dần dần phát triển một cách ngẫu hứng.
Tuy nhiên, quá trình này rất năng động và không ngừng phát triển. Nhóm có thể đi vào ngõ cụt về một chủ đề nhất định và chuyển sang chủ đề khác. Những khoảnh khắc im lặng có thể xuất hiện với độ dài không xác định. Không có cái gọi là đúng hay sai khi ở trong một nhóm như vậy. Mọi người đều được mời gọi làm theo cách mà họ cảm thấy cần phải có trong thời điểm hiện tại.
Nhóm Gặp Gỡ không phải là một hoạt động tham vấn hay trị liệu nhóm, mặc dù với bầu không khí tâm lý an toàn và tôn trọng, nhiều cá nhân có thể cởi mở hơn với các trải nghiệm bên trong và qua đó chữa lành những tổn thương của mình, và phát triển cá nhân. Song điều này là có thể, không phải một sự đảm bảo tuyệt đối; và đôi khi, trải nghiệm có thể là không dễ chịu. Mỗi Nhóm Gặp Gỡ là một sự kiện riêng biệt và chúng không có tính liên tục, trái ngược với liệu pháp nhóm trong đó các thành viên giống nhau gặp nhau thường xuyên và tiếp cận các vấn đề nhất định một cách liên tục trong suốt nhiều phiên.
ĐỐI TƯỢNG THAM DỰ
Nhóm Gặp Gỡ là một dự án cộng đồng, phi lợi nhuận, hướng đến công chúng. Nên chuỗi sinh hoạt này hướng đến tất cả mọi người, đến bất kỳ cá nhân có mong muốn trải nghiệm một sự gặp gỡ gần gũi và tương tác trong bối cảnh nhóm, với một không gian tâm lý mà các hỗ trợ viên (facilitators) kỳ vọng gầy dựng nhiều nhất có thể trong khả năng. Qua đó, hy vọng giúp người tham dự tìm thấy những kết nối chân thật giữa người với người.
Nhóm Gặp Gỡ của dự án Tự Học Hạnh Phúc có sự tham dự của các hỗ trợ viên (facilitators):
+ ThS Tâm lý học lâm sàng – Huỳnh Hiếu Thuận
+ Học viên cao học Tâm lý học lâm sàng – Nguyễn Ngọc Thảo Nguyên
+ Cử nhân Tâm lý học – Lê Phương Lan (Liu May)
+ Và các tình nguyện viên khác hỗ trợ tổ chức, vận hành dự án.
THÔNG TIN THAM DỰ
💡 Hình thức: Trực tiếp (offline) hoặc trực tuyến (online)
📍 Địa điểm: Cái Tổ Nhỏ – 193/31 Nguyễn Đình Chính, Q. Phú Nhuận hoặc Zoom Meeting
📌 Thời điểm: tùy theo tháng
⏰ Thời lượng: 18:30 – 21:00 (2.5 tiếng)
👥 Số lượng tham dự viên: tối đa 18 người (bao gồm ban tổ chức)
Đây là sự kiện không thu phí. Dự án xin phép có lời mời gọi trao tặng tùy hỉ sau khi tham gia sự kiện. Khoản phí quyên góp này sẽ được dự án dùng để chi trả các khoản phí về phòng ốc, điện nước và các chi phí tổ chức. Sự đóng góp tự nguyện của tham dự viên có thể nuôi dưỡng dự án tồn tại lâu dài hơn và tạo cơ hội cho những người tham dự tiếp theo, với tinh thần “pay it forward”. Cách thức quyên góp: bạn có thể gởi ở hộp quyên góp ở cuối sự kiện hoặc chuyển khoản.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
💌 Email: nhomgapgo@gmail.com
-
THÔNG TIN TỔNG QUAN
“Thảo luận ca lâm sàng” là chuỗi sinh hoạt chuyên môn trong lĩnh vực Tâm lý học lâm sàng được dự án Tự Học Hạnh Phúc & Chuyện Nghề Giúp Đỡ dự kiến tổ chức định kỳ hàng tháng kể từ tháng 12/2023 nhằm mục đích chia sẻ các ca/tình huống tâm lý lâm sàng và tạo cơ hội thảo luận sâu rộng hơn từ lý thuyết đến thực hành. Qua đó, chuỗi sinh hoạt kỳ vọng hỗ trợ củng cố nền tảng lý thuyết cũng như bồi dưỡng năng lực thực hành cho các nhà thực hành tâm lý học lâm sàng nói chung, và các nhà thực hành theo tiếp cận Nhân vị trọng tâm (Person centered approach – PCA) và Trị liệu tập trung vào cảm xúc (Emotionally focused therapy – EFT) nói riêng.
THÔNG TIN CHI TIẾT

Carl Rogers (1985) đã thị phạm tiếp cận Nhân vị trọng tâm (PCA) với Peter Ann, người than phiền rằng bản thân đang khổ sở với cảm giác tội lỗi và buồn bã sau khi từ bỏ việc làm mẹ để theo đuổi sự nghiệp. Sau khi quyết định có con, cô đã bị sẩy thai và từ đó không thể mang thai. Rogers đã hỗ trợ cô kết nối với tiềm năng bản thân để trải nghiệm một cảm nhận tích cực và bao dung hơn dành cho bản thân.
Đến với kỳ đầu tiên của chuỗi thảo luận ca lâm sàng, chúng ta có thể:
Hình dung và cảm nghiệm cách Rogers tiếp cận hỗ trợ một tình huống lâm sàng (khoảng 30 phút)
Thảo luận khái niệm hóa ca theo góc nhìn của PCA và EFT
Thời gian: 18:30 – 21:00 ngày Thứ Ba – 26/12/2023
Hình thức tổ chức: Trực tiếp (Offline)
Địa điểm: Cái Tổ Nhỏ – 193/31 Nguyễn Đình Chính, Phường 11, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM
Điều phối viên: ThS. Huỳnh Hiếu Thuận
Số lượng tham gia: tối đa 16 tham dự viên (những cá nhân đang học và/hoặc thực hành trong lĩnh vực Giúp đỡ tinh thần cho con người, Tâm lý học nói chung và Tâm lý học lâm sàng nói riêng)
Phí tham gia: 150.000đ/người (bao gồm tài liệu bản cứng và bản mềm)
Thông tin gởi phí (để xác nhận tham gia chính thức): Huynh Hieu Thuan – 113974639 – Ngân hàng Á Châu (ACB)
Liên lạc: tuhochanhphuc@gmail.comĐăng ký tham gia bằng cách điền biểu mẫu (hoặc quét mã QR trong hình): https://forms.gle/ncqu5fCmKL3cEzqq6