Định hình ca dưới khung làm việc của tiếp cận nhân vị trọng tâm: một sự tương thích còn trăn trở?

Tác giả: Jane Simms

Nội dung: Mục tiêu của bài báo sau đây là bàn luận về vai trò của việc định hình ca trong thực hành tham vấn tâm lý cho những người hành nghề theo đuổi việc đưa phương pháp nhân vị trọng tâm vào thực tiễn lâm sàng.

Trọng tâm: Khả năng định hình các vấn đề được thân chủ trình bày dựa trên một mô hình lý thuyết nhất định được xem là năng lực lâm sàng tiêu chuẩn ở các chuyên gia. Dù vậy, chúng ta nhận thấy rằng yếu tố trên lại không phải là chủ đề thường xuất hiện trong chương trình đào tạo, đồng thời các nghiên cứu thuộc lĩnh vực có liên quan đến công dụng của nó cũng rất ít ỏi. Lượng nghiên cứu còn hạn chế trong lĩnh vực trên nhấn mạnh rằng việc nắm bắt được các vấn đề khó khăn của thân chủ sẽ có ích cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu. Bài viết sau đây sẽ phác thảo cách tích hợp các tư liệu từ thân chủ vào mô hình lý thuyết nhân vị trọng tâm.

Kết luận: quá trình định hình ca có thể được áp dụng thoải mái vào thực hành lâm sàng thường xuyên miễn là các nhà tham vấn tâm lý phải đảm bảo được rằng nó là sự nỗ lực mang tính hợp tác tạo điều kiện cho tính tự chủ và sự lựa chọn của thân chủ, tôn trọng thân chủ như là người duy nhất viết nên câu chuyện của đời mình, và tránh việc áp đặt hoặc diễn giải chủ quan trong cách tiếp cận của mình.

Từ khóa: tham vấn tâm lý; định hình ca; nhân vị trọng tâm; năng lực.

Các nhà tham vấn tâm lý tham gia thực hành lâm sàng cần phải có khả năng định hình được các vấn đề mà thân chủ của họ trình bày trong khuôn khổ mô hình trị liệu mà họ đã chọn. Đây là một kỹ năng được nhấn mạnh trong quyển Cẩm nang hướng dẫn về các năng lực cốt lõi trong Tâm lý học tham vấn dành cho các chương trình đào tạo Tâm lý học tham vấn (Core Competencies Counselling Psychology Guidance for Counselling Psychology Programmes), được viết bởi Hội Tâm Lý Học Anh (British Psychological Society) (2010) mà trong đó đã chỉ ra rằng những người hành nghề cần phải có khả năng đánh giá được tâm lý và phải tổng hợp được nhiều kiểu ca tham vấn khác nhau, đặc biệt là phải ‘định hình’ được các vấn đề của thân chủ trong khuôn khổ của một hay nhiều mô hình trị liệu được chọn (trang 15). Kỹ năng trên cũng đã được tóm tắt trong quyển Tiêu chuẩn năng lực hành nghề của các nhà tâm lý học lâm sàng (Standards of Proficiency – Practitioner Psychologists) của hội Hội Đồng Nghề Nghiệp Sức Khoẻ (HPC, 2009). Do đó, khả năng định hình được các vấn đề của thân chủ dù cho người thực hành có sử dụng đến mô hình lý thuyết nào đi chăng nữa, được xem như là một yêu cầu chuyên môn, một tiêu chuẩn đặc thù của năng lực lâm sàng và được coi là nền tảng cho thực hành lâm sàng thường xuyên (Eells, Kendjelic & Lucas, 1998).

Định hình ca, dẫu đã được khẳng định tầm quan trọng, thường là một ‘kỹ năng lâm sàng ít được đưa vào giảng dạy và đào tạo’ (Sim, Gwee & Bateman, 2005, tr.290). Điều này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nắm bắt được vai trò của kỹ năng định hình ca ở cả cấp độ khái quát và cụ thể. Mặc dù trước đây lĩnh vực này ít được chú ý đến, nhưng trong những năm gần đây, giới tâm lý học, tâm lý trị liệu, tham vấn và tâm thần học đã ngày càng lưu tâm hơn, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và đào tạo (Johnstone & Dallos, 2006). Do đó, đây có lẽ là thời điểm thích hợp để giới tâm lý học tham vấn, nhất là những người đang thực hành theo khung làm việc thân chủ trọng tâm, xem xét lại vai trò của việc định hình ca, khái niệm từng bị chính trường phái tiếp cận này bác bỏ. (Rogers, 1951).

Thế nào là một định hình ca tâm lý?

Trước khi đi vào việc bàn luận về vai trò của quá trình làm việc với các ca bệnh, trước hết ta cần phải biết định nghĩa của nó. Sim và cộng sự (2005, tr.290) đã đưa ra một định nghĩa như sau:

‘Định hình ca sẽ tóm tắt lại các đặc điểm nổi bật của ca đó một cách cô đọng và nhanh chóng xác định ra các vấn đề quan trọng, đặc biệt là các ca phức tạp có nhiều vấn đề… giúp hỗ trợ việc tổ chức và tích hợp các dữ liệu lâm sàng xoay quanh một nhân tố cốt lõi và tạo điều kiện cho nhà lâm sàng tập trung vào trọng tâm của vấn đề trong từng ca cụ thể.’

Như vậy, đây là một phương pháp mà cả thân chủ lẫn nhà trị liệu có thể tận dụng để thấu suốt được những quá trình dẫn đến những khó khăn cụ thể của thân chủ, về cách mà chúng bắt đầu, các yếu tố khiến vấn đề tồn đọng, và liệu là các yếu tố đó xuất phát từ bên trong hay bên ngoài đối với thân chủ, hoặc cả hai, chẳng hạn như lối suy nghĩ, biến cố trong đời, các phản ứng cảm xúc và hành vi. Thông thường thì nó là một giả thuyết tạm thời mang tính lý giải dựa trên một học thuyết nền tảng, ngoài việc giúp ta hiểu được các trở ngại của thân chủ, thì giả thuyết này còn tác động cả phương hướng, chi phối cả tiến trình lẫn kết quả trị liệu (Bennett, 2003). Do đó, nó có thể được xem là một tấm bản thảo hoặc bản đồ hướng dẫn cho việc trị liệu, đồng thời trở thành một chỉ dấu cho sự thay đổi (Eells, 2007).

Dù việc định hình ca có rất nhiều định nghĩa, đa số chúng đều bao gồm các khía cạnh mang tính mô tả, chỉ định, và phỏng đoán về các vấn đề hiện diện ở thân chủ (Sim, Gwee & Bateman, 2005). Tuy nhiên, chúng cũng sẽ có các chức năng khác như tạo điều kiện cho sự thấu hiểu từ nhà trị liệu, hỗ trợ giám sát nội bộ, phát hiện các vết rạn nứt trong quan hệ trị liệu và cải thiện việc giao tiếp với thân chủ (Butler, 1998; Eells, 2007). Như vậy, khía cạnh ‘quá trình và chức năng’ được nêu trên (Blackburn, James & Flitcroft, 2006) đã nhấn mạnh rằng việc thực hiện định hình ca trong khuôn khổ thực hành lâm sàng thường xuyên là một hoạt động tương quan có sự tham gia từ cả thân chủ và nhà trị liệu. Tức là, như Blackburn, James và Flitcroft (2006, tr.126) đã chỉ ra, thì đây chính là một ‘quá trình chung có tính phụ thuộc cao vào sự phản hồi’ từ thân chủ.

Sự đa dạng của phương pháp định hình ca

Với nhiều mô hình lý thuyết khác nhau, khả năng định hình hoặc nắm bắt được những khó khăn của thân chủ là một đặc điểm cơ bản của quá trình trị liệu. Chẳng hạn, trong Liệu pháp Nhận thức-Hành vi (CBT), khả năng trên được xem như một kỹ năng lâm sàng cốt lõi và một đặc điểm chủ chốt của liệu pháp. Quá trình định hình ca trong phương thức trị liệu trên sẽ bao gồm các vấn đề hiện tại mà thân chủ đang gặp phải và sự nỗ lực trong việc xâu chuỗi lại các lối suy nghĩ lệch lạc, hành vi gây trở ngại và mối quan hệ giữa các yếu tố trên cũng như phản ứng cảm xúc từ thân chủ. Thêm vào đó, ta cũng sẽ xét đến các đặc điểm về mặt sinh học và môi trường có khả năng tạo ra khuynh hướng, gây tích tụ và tồn đọng các vấn đề của từng thân chủ. Mục tiêu ở đây chính là xâu chuỗi lại các trở ngại được biểu hiện và cách thức mà chúng tương quan với nhau trong một khuôn khổ liền mạch, giải thích được vì đâu mà các trở ngại đó xuất hiện và giúp cho cả hai phía nắm bắt được cách nhìn nhận những khó khăn của thân chủ và truyền đạt lại các ý nghĩa từ đó cho thân chủ (Johnstone & Dallos, 2006).

Liệu pháp tương tác liên nhân vị (IPT) cũng là một liệu pháp dựa trên việc định hình ca trong cách tiếp cận để có thể thấu hiểu được sự phiền muộn của thân chủ. Trong mô hình này, các triệu chứng, thường là trầm cảm, sẽ được hiểu trong ngữ cảnh tương tác giữa người với người. Việc định hình các ca liên cá nhân trên sẽ được tích hợp vào một mô hình sinh học tâm lý xã hội (Weissman, Markowitz & Klerman, 2000). Các cơ địa sinh học kết hợp với các trải nghiệm đầu đời và kiểu hình gắn bó có thể khiến cho một cá nhân dễ bị tổn thương dẫn đến việc dễ gặp phải khó khăn trong các mối quan hệ liên cá nhân trong những thời điểm khủng khoảng, đặc biệt khi sự hỗ trợ về mặt xã hội còn thiếu hoặc bị xem là không đủ. Trong liệu pháp IPT, tất cả các yếu tố trên sẽ được xâu chuỗi lại với nhau để định hình thành một cách hiểu về các vấn đề được biểu hiện ở thân chủ trong phạm vi trọng tâm cụ thể: xung đột về vai trò, nỗi đau khổ, sự nhạy cảm giữa các cá nhân và sự chuyển dịch trong vai trò (Stuart & Robertson, 2003).

Trong liệu pháp Tâm động, định hình ca được tận dụng như phương tiện để những nỗi khổ của thân chủ được thấu hiểu dựa trên các kiểu hành vi kém thích nghi không ngừng tái diễn (Leiper, 2006). Các vấn đề hiện diện ở thân chủ sẽ được xem như là sự hiện thân của các xung đột tiềm ẩn nhiều khả năng đã bén rễ từ thời thơ ấu. Cảm giác của nhà trị liệu sẽ được tận dụng để phát triển một công thức định hình các vấn đề của thân chủ (Sturmey, 2009).

Trong liệu pháp Hệ thống, vai trò của định hình ca là hỗ trợ việc ‘xác định những gì được xem là vấn đề và những cách mà chúng liên kết với những khó khăn mà gia đình thân chủ muốn vượt qua’ (Dallos & Stedmon, 2006, tr.73). Định hình ca trong khuôn khổ mang tính hệ thống sẽ bao gồm việc phân tích vấn đề, xác định các khuynh hướng làm tồn đọng vấn đề và vòng lặp phản hồi, các niềm tin và kỳ vọng, các chuyển dịch trong chu trình đời sống, cảm xúc và sự gắn bó, cũng như các biến số về bối cảnh (Dallos & Stedmon, 2006). Như vậy, trọng tâm nằm ở chỗ hiểu được các vấn đề tâm lý trong bối cảnh xã hội, chính trị và sự tương tác giữa con người (dù là gia đình hay đồng nghiệp), đồng thời xem xét đến việc nhận diện các vấn đề nảy sinh ở giai đoạn phát triển khác nhau.

Trong một mô hình tích hợp như Liệu pháp phân tích nhận thức (Ryle, 1995), ta sẽ đặt trọng tâm vào việc tái định hình các khó khăn của thân chủ thông qua việc xác định các khuynh hướng của vai trò và các quy trình như niềm tin, ý nghĩ, cảm giác và hành động trong ‘bối cảnh của góc nhìn đối thoại về quan hệ con người và ý thức cá nhân’ và điều này có thể được phác họa dưới dạng lưu đồ, thể hiện mối quan hệ giữa tất cả các thành phần khác nhau và được tóm gọn trong một lá thư gửi cho thân chủ (Eells, 2009, tr.303).

Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một mô hình nhân văn, đặc biệt trong phương pháp tiếp cận nhân vị trọng tâm, khái niệm của việc định hình ca và đề xuất công khai tích hợp nó vào tiến trình trị liệu đã nhiều lần bị bác bỏ (Johnstone và Dallos, 2006; Eells, 2007). Rogers (1951) đã cho rằng điều này sẽ tạo ra sự mất cân bằng quyền lực trong quan hệ trị liệu qua việc đặt nhà trị liệu vào vị thế của một chuyên gia và qua đó có khả năng gây nên sự lệ thuộc độc hại khi thân chủ nương theo cách hiểu của nhà trị liệu, từ đó dẫn đến sự trì trệ trong việc tạo ra được mối quan hệ trị liệu chân chính. Vì vậy, Rogers (1951) đã tranh luận rằng điều này có khả năng gây hại. Như Johnstone (2006, p.216) đã chỉ ra rằng:

‘Vấn đề cốt lõi ở đây chính là quyền lực, và cụ thể hơn, là quyền lực của một người, dưới vị thế của một chuyên gia, trong việc áp đặt quan điểm của mình lên người khác.’

Quả vậy, nghiên cứu trong lĩnh vực đã đưa ra các trường hợp khi định hình ca gây hại cho sức khỏe của thân chủ. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Chadwick, Williams và Mackenzie (2003) nhằm tìm hiểu về tác động của định hình ca lên trạng thái lo âu và trầm cảm, lời kể lại của những người tham gia đã cho thấy rằng một số người cảm thấy khó chịu, lo lắng, hay thậm chí là buồn. Dường như việc xâu chuỗi lại tất cả các thông tin về vấn đề của thân chủ có thể phô ra một bức tranh tổng thể choáng ngợp khiến họ cảm thấy chán nản. Nghiên cứu sâu hơn vào lĩnh vực đã cho thấy rằng việc trên có thể có một số tác động khác lên thân chủ như khiến họ không thể tin tưởng vào chính bản thân mình (Proctor, 2002), vì nó tiềm tàng khả năng bị chi phối bởi phán xét và phỏng đoán của nhà trị liệu (Masson, 1990). Do vậy, quan điểm của Roger (1951) cho rằng nó có thể tạo ra sự mất cân bằng quyền lực trong quan hệ trị liệu thực sự có giá trị nếu chúng ta xem xét những điều trên, dù nghiên cứu trong lĩnh vực này vẫn còn những hạn chế, điều này thể hiện rằng nó có thể gây hại cho thân chủ.

Tính hữu ích của phương pháp định hình ca

Đi sâu vào vấn đề hơn, Johnstone (2006) đã phác thảo những tranh cãi lẫn tranh luận khác nhau về định hình ca và đặt ra các câu hỏi như: Liệu nó hữu ích với ai? Liệu nó có gây hại không? Chúng ta có thực sự cần đến nó không? Liệu bất cứ ai cũng có thể thực hiện nó hay có phải tất cả mọi người đều đang thực hiện nó? Liệu nó có mang tính cá nhân hóa quá không? Vai trò của nó trong việc chẩn đoán nằm ở đâu? Tổng hợp các nghiên cứu trong lĩnh vực, Johnstone (2006) đã cho thấy rằng, ở một mặt khác, nó cũng có thể chẳng mang lại lợi ích gì cho các thân chủ được kể trên, đồng tình với Butler (1998), người cho rằng thân chủ dường như sẽ bị cân đo đong đếm, bị đánh giá hoặc phán xét – giống như bị ‘soi mói’ hay bị ‘vạch trần’ hơn là được ‘thấu hiểu.’ Hơn nữa, ta cũng không có nhiều bằng chứng cho thấy nó có sự ảnh hưởng đến kết quả điều trị của thân chủ. (Madill et al., 2001; Chad wick et al, 2003). Bản chất cá nhân hóa của nó cũng bị chỉ trích vì không có khả năng xem xét đến hoàn cảnh cá nhân, chính trị và xã hội (Johnstone, 2006).

Tuy nhiên, chúng ta cần phải có sự thận trọng vì theo như Johnstone (2006) đã chỉ ra rằng chúng ta không có nhiều bằng chứng thực nghiệm chứng minh cho các tuyên bố trên và do đó, chúng ta phải cẩn trọng trong việc diễn giải các kết quả thu thập được từ các nghiên cứu hiện có. Dù vậy, định hình ca vẫn được xem là một kỹ năng lâm sàng cơ bản mà nhiều chuyên gia y tế được yêu cầu phải nắm bắt được trong quá trình đào tạo và thường xuyên áp dụng vào thực tiễn. Kỹ năng này cũng được đưa vào nhiều chương trình đào tạo chuyên môn, và như đã được nhắc đến ở phần mở đầu, nhiều bộ phận chuyên gia cũng đưa ra quy định rằng kỹ năng trên sẽ thể hiện được năng lực chuyên môn (Sturmey, 2009).

Với những quan điểm đối lập như trên thì liệu việc áp dụng định hình ca sẽ mang lại lợi ích gì trong thực hành lâm sàng thường xuyên? Từ góc nhìn của một nhà trị liệu, nó được xem là có lợi trong việc hỗ trợ nhà trị liệu hiểu được khó khăn của thân chủ, sắp xếp và tổng hợp thông tin, xác định rủi ro, lựa chọn biện pháp can thiệp phù hợp và khơi gợi cảm giác hy vọng vào việc trị liệu khi có được sự tán thành từ thân chủ, góp phần củng cố tinh thần liên minh, hợp tác, sự tự tin cho nhà trị liệu khi họ lựa chọn và tuân thủ theo một phương pháp tiếp cận. (Chadwick et al., 2003). Vậy còn phía thân chủ thì sao? Ta có thể chắc chắn một điều rằng các thân chủ sẽ không đi đến các phòng trị liệu để đòi một bản tổng hợp về ca (Johnstone, 2006). Hiển nhiên rằng, họ sẽ tham gia vào quá trình trị liệu để có thêm hiểu biết và hỗ trợ việc điều trị những vấn đề của họ. Roy-Choudry (2003) đã chỉ ra rằng dù ta có đi theo phương pháp lý thuyết nào thì tính chất cơ bản của tất cả các hình thức trị liệu chính là việc ra sức thấu hiểu được thân chủ, hiểu được trải nghiệm độc nhất của họ và giúp họ hiểu được những khó khăn của họ, dựa trên những thông tin mà họ đã trình bày, với thái độ dè dặt và không áp đặt. Sau cùng, bản chất của định hình ca là nắm bắt và qua đó đưa ra một phương tiện để hỗ trợ thân chủ ‘hiểu được những điều khó hiểu’ (Blackburn, James & Flitcroft (2006, tr.126). Thêm vào đó, ta cũng phải giúp thân chủ hiểu được những vấn đề của họ và những phiền muộn gắn liền, đồng thời tạo điều kiện để họ có thể xây dựng được ý nghĩa từ những trải nghiệm của họ (Johnstone, 2006).

Chúng ta cũng sẽ còn có những vấn đề lớn hơn để xem xét đến như tình trạng hạn chế về nguồn lực, nhu cầu vô tận đang ngày càng gia tăng đối với việc trị liệu tâm lý, sự thiếu thốn trong ngân quỹ dịch vụ, tất cả các vấn đề trên đã khiến nhiều nhà trị liệu bị gò bó trong một khung thời gian hạn hẹp. Chính vì vậy, họ thường rơi vào tình cảnh tự thúc ép bản thân mình phải làm việc hiệu quả hơn để chứng minh được giá trị và chi phí của những gì họ đóng góp (Eells et al., 1998; Tudor, 1998). Theo Eells và cộng sự (1998), điều này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng định hình ca vì phương pháp nàycó thể hỗ trợ nhà trị liệu trong việc sắp xếp và tổng hợp thông tin một cách súc tích (Sim và cs, 2005), phù hợp cho những ai bị gò bó trong dịch vụ trị liệu bị hạn chế về thời gian.

Dù phương pháp trên đã vấp phải nhiều lời phê phán, dường như bất kỳ ai cũng đã từng phải bước vào quá trình tự định hình dù là về thế giới, con người xung quanh hay chính bản thân họ (Johnstone, 2006). Nếu nhận định trên là đúng thì tất cả các nhà trị liệu đều đã và đang áp dụng phương pháp định hình ca, dù cho họ có bám theo lập luận lý thuyết nào đi chăng nữa. Theo quan điểm của Johnstone (2006, tr.228), điều này có nghĩa là ngay cả các phương thức trị liệu quyết liệt từ chối phương pháp định hình ca trên thực tế cũng đã và đang tận dụng đến các kỹ thuật hay chiến lược có mục tiêu là giúp thân chủ đạt được sự thấu hiểu về mặt tâm lý, hoặc là một sự định hình, nỗi đau khổ của họ. Điểm khác biệt mấu chốt có lẽ chính là tinh thần đề cao việc tôn trọng các quan điểm riêng của thân chủ.’ Theo như tranh luận của tác giả thì điều này chính là một ‘liều thuốc giải độc hữu ích đối với việc lạm dụng’ mà các phương pháp lý thuyết khác vấp phải và vì đó mà phương pháp Định hình ca bị chỉ trích, đồng thời cũng lý giải lý do tại sao các nhà trị liệu đi theo hướng cá nhân lại tỏ ra miễn cưỡng trong việc áp dụng phương pháp trên.

Các bài viết trong thời gian gần đây về phương pháp định hình ca đã nhấn mạnh bản chất mang tính hợp tác của nó và tác động tích cực mà nó mang lại cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu. Chẳng hạn như, trong bài nghiên cứu của Chadwick và cộng sự (2003), nhiều người tham gia đã cho rằng phương pháp Định hình ca đã giúp họ củng cố được sự hiểu biết về bản thân mình và mang lại cho họ cảm giác tự tin và được khích lệ (Johnstone, 2006). Cũng trong cùng nghiên cứu, các nhà trị liệu đã cho rằng họ có cảm giác được công nhận khi các thân chủ của họ có sự chấp thuận về việc sử dụng phương pháp định hình ca, và rằng phương pháp trên đã mang đến cho họ một cảm giác lạc quan về các lợi ích tiềm năng của việc trị liệu cho thân chủ, tăng cường sự hợp tác, thắt chặt liên minh điều trị, và tuân thủ một phương pháp lý thuyết mà họ đã chọn trong điều trị, vànhìn chung là giúp họ hiểu sâu hơn về những khó khăn mà thân chủ họ gặp phải. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Evans và Parry (1996) để tìm hiểu về tác động của quá trình tái định hình trong Liệu pháp Phân tích Nhận thức (CAT), các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng thân chủ có cảm nhận rằng mình được nhà trị liệu lắng nghe và thấu hiểu. Như đã được nêu trên, nghiên cứu này vẫn còn có sự hạn chế và cũng vì thế mà đây chính là một lĩnh vực đang ở thời điểm chín muồi để các nhà nghiên cứu có thể tập trung vào tìm hiểu. Chúng ta cũng cần phải lưu ý rằng, như Johnstone (2006, tr.230) đã chỉ ra: ‘Những chỉ trích và hạn chế về phương pháp định hình này cũng phản ánh những chỉ trính và hạn chế của chính liệu pháp.’

Một khía cạnh khác mà phương pháp Định hình ca được cho là có ích chính là vai trò của nó trong việc đưa ra một hướng đi khác cho việc chẩn đoán bệnh bởi nó có thể cung cấp cho ta một bản tường thuật có ý nghĩa cá nhân về những khó khăn của một người (Boyle, 2001). Điều này đi ngược với các quan điểm của Rogers (1951) khi ông cho rằng việc định hình là quá trình ‘chẩn đoán tâm lý.’ Đây chính là điểm có thể khiến chúng ta cảm thấy bối rối trong mô hình nhân vị trọng tâm dưới ý tưởng của định hình ca bởi vì Rogers (1951) đã có quan điểm xem nó như là thứ gì đó dẫn đến định hình một kế hoạch trị liệu dựa trên việc đánh giá và chẩn đoán. Đây cũng chính là quan điểm được ủng hộ bởi các nhà lý thuyết đương đại (Mearns, 1997). Gillon (2007) đã từng có một bài viết ngắn gọn về phương pháp Định hình trong trị liệu nhân vị trọng tâm và thực hành đương đại về sức khỏe tâm thần, đồng thời đã nêu lên rằng:

‘… vốn dĩ việc chẩn đoán khi đặt kiến thức và chuyên môn của nhà trị liệu lên trên thân chủ… một tiến trình mà… là một quá trình mà qua đó, dù được tiến hành một cách song phương nhất có thể, vẫn nghiêng hẳn về các lý thuyết tâm lý để có thể hiểu được những khó khăn của thân chủ, từ đó làm xao nhãng trải nghiệm và nhận thức riêng của thân chủ, nhường chỗ cho tri thức của nhà trị liệu.”.’

Tuy vậy, Gillon (2007) đã không hoàn toàn chối bỏ đi ý niệm này mà thay vào đó đề xuất rằng khi ta xem xét định hình ca trong một mô hình nhân vị trọng tâm, điều quan trọng nhất chính là quá trình ‘định hình’ mà thân chủ chia sẻ với nhà trị liệu. Những quan điểm trên không phải không tương đồng với quan điểm của Tarrier (2006), người cho rằng nếu phát huy được hiệu quả vốn có của nó thì định hình ca phải là một nỗ lực mang tính hợp tác, cân nhắc đến các quan điểm và niềm tin của thân chủ mà không áp đặt nó lên thân chủ vì điều này cho thấy nó xuất phát từ khung tham chiếu của nhà trị liệu. Do vậy, chúng ta có thể sẽ thắc mắc về việc liệu sẽ có một vùng trung lập mà qua đó những người tham vấn tâm lý có thể tiến hành áp dụng phương pháp định hình ca trong khuôn khổ mô hình nhân vị trọng tâm hay không.

Vai trò của phương pháp định hình ca trong thực hành liệu pháp nhân vị trọng tâm: Liệu có cần thiết?

Những tiến triển trong thời gian gần đây về lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm có liên quan đến vai trò và tính thiết thực của việc đánh giá và chẩn đoán có thể giúp chúng ta trả lời được câu hỏi được nêu trên (Wilkins, 2006). Việc đánh giá và chẩn đoán thường gắn liền với mô hình y tế và từ trước đến nay đã bị bác bỏ bởi những người hành nghề theo hướng nhân vị trọng tâm (Mearns, 1997). Và như đã nêu, vai trò của phương pháp định hình ca từ trước đến nay đã luôn nhất quán phù hợp với cả hai và do đó đã bị bác bỏ, vì theo một nghĩa nào đó, nó bị kết tội vì có sự liên đới trên.

Điều quan trọng là phải chỉ ra được điểm khác biệt giữa những khái niệm trên. Đánh giá là một quá trình khai thác bệnh sử, thường sẽ bao gồm việc thu thập thông tin về một hay nhiều vấn đề biểu hiện ở thân chủ và các yếu tố căn nguyên dẫn đến sự khởi phát của khó khăn. Quá trình trên có thể liên quan đến các bài kiểm tra và đo lường khách quan (Joseph & Linely, 2006). Về cơ bản thì nó chính là giai đoạn đầu tiên của định hình ca vì thông tin được thu thập sẽ giúp các nhà thực hành trị liệu hiểu được các vấn đề của thân chủ. Chẩn đoán chính là việc dán nhãn hoặc phân loại các khó khăn thu thập được từ quá trình đánh giá và định hình, thường sẽ được đặt vào trong khuôn khổ của một mô hình y tế. Nhiều tác giả đã công nhận sự cấp thiết đối với các nhà thực hành, đặc biệt là những ai có chức vụ trong các hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần, trong việc cởi mở với ý tưởng đánh giá và chuẩn đoán (Bozarth, 1998; Stiles, 2001; Wilkins & Gill, 2003; Wilkins, 2006). Trên thực tế, chính Rogers (1957) cũng được cho là đã thừa nhận tính thiết thực của việc chẩn đoán khi nói đến quan hệ trị liệu vì nó giúp nhà trị liệu hiểu rõ hơn những khó khăn của thân chủ và từ đó củng cố sự thấu cảm và đồng điệu (Berghofer, 1996; Binder & Binder, 1991; Schmid, 1992). Cả Sommerbeck (2007) và Gibbard (2008) đã từng viết về những thách thức khi làm việc trong các hệ thống sức khỏe tâm thần và Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) dưới vai trò là các nhà trị liệu đi theo hướng nhân vị trọng tâm nhưng đồng thời cũng đã chỉ ra rằng chúng ta có thể tuân theo lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm trong một khuôn khổ mà về mặt truyền thống vốn bị chỉ trích là phi nhân tính.

Tuy nhiên, việc đánh giá và định hình không nhất thiết phải dẫn đến chẩn đoán và ta có thể hoàn toàn thực hiện cả hai mà không cần chẩn đoán cho thân chủ. Joseph và Linley (2006) đã chỉ ra rằng các nhà trị liệu nhân vị trọng tâm không thường xuyên tìm hiểu bệnh sử, đánh giá, định hình hay chẩn đoán cho các thân chủ. Tuy nhiên, họ cũng đã thừa nhận rằng các nhà trị liệu đi theo hướng thân chủ trọng tâm sẽ khác nhau ở mức độ mà họ cho là cần thiết đối với các hoạt động nêu trên. Trên một phương diện nào đó, chúng ta sẽ có sự sai lầm khi cho rằng tất cả các nhà liệu đi theo hướng thân chủ trọng tâm đều nhất quyết bác bỏ việc đánh giá và chẩn đoán (Wilkins, 2006). Tuy nhiên, các nhà tham vấn tâm lý phần nào đó khác với các nhà trị liệu nhân vị trọng tâm ở chỗ: điểm đặc thù trong năng lực lâm sàng của họ là họ cần phải có khả năng thực hiện việc đánh giá tâm lý và định hình các vấn đề hiện hữu ở thân chủ trong khuôn khổ của mô hình lý thuyết mà họ lựa chọn, và việc này bao gồm cả những ai ủng hộ mô hình nhân vị trọng tâm. Vì vậy, họ cần phải tìm được một phương hướng để tuân theo các yêu cầu trong các chương trình đào tạo chuyên môn của họ và đồng thời trân quý và tôn trọng nền tảng triết lý của mô hình lý thuyết nhân vị trọng tâm.

Nhiều nhà tham vấn tâm lý làm việc trong hệ thống NHS đã quá quen với những thách thức trong việc tiến hành liệu pháp có sự hạn chế về thời gian, đã được minh chứng qua nghiên cứu, có giá thành thấp, thể hiện được tính hiệu quả về kết quả đạt được (Tudor, 2008; Gibbard, 2008). Và các thách thức sẽ càng lớn hơn đối với những ai ủng hộ việc áp dụng phương pháp nhân vị trọng tâm vào thực hành lâm sàng. Tuy vậy, chúng ta có thể thực hiện liệu pháp nhân vị trọng tâm trong khuôn khổ của một lĩnh vực mà các mô hình y tế đang thống trị. Việc tiếp đón các khái niệm như đánh giá, chẩn đoán và định hình ca không đồng nghĩa với việc ta phải nhất thiết từ bỏ thực hành nhân vị trọng tâm. Cái mà chúng ta cần phải làm chính là cân nhắc kỹ lưỡng về ‘cách thức’ tiến hành trị liệu.

Tích hợp giữa lý thuyết và thực hành

Theo như Sim và cộng sự (2005), vị thế của định hình ca chính là điểm giao thoa giữa căn nguyên và tường thuật, giữa khoa học và nghệ thuật, giữa lý thuyết và thực tiễn. Với tư duy này, làm thế nào để một nhà tham vấn tâm lý hoạt động trong một khung làm việc nhân vị trọng tâm có thể dung hợp các yếu tố trên để giới thiệu và triển khai định hình ca cho thân chủ của họ mà không làm mất đi bản chất của lý thuyết lẫn thực hành, vốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì vị thế bên trong khung tham chiếu nội tại của thân chủ? Đây không phải là một công việc dễ dàng và đòi hỏi ta phải có sự nhạy bén, căn chỉnh thời gian, nắm bắt và tin tưởng vào bản thân và lý thuyết. Theo như Wilkins thì trị liệu sẽ có hai yếu tố thiết yếu, hay nếu nói theo Schmid (2003) thì ông khẳng định rằng trị liệu tức là nói đến “chúng ta” và từ đó, quan hệ nhân vị trọng tâm phải mang tính hợp tác, cộng tác, cùng tạo dựng và cùng trải nghiệm.’ Thông tin ta thu thập được từ thân chủ thông qua việc đánh giá và định hình ca trở thành sự hiểu biết mà ta chia sẻ và giải thích cho thân chủ có thể giúp ta đảm bảo được rằng mối quan hệ sẽ giữ được tính chất ‘đồng kiến tạo’ và ‘đồng trải nghiệm.’ Thật vậy, Mearns và Cooper (2005, tr.9) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của nhu cầu muốn có được ‘sự tương tác qua lại, song phương và tương hỗ hơn’ trong thực hành liệu pháp nhân vị trọng tâm. Đặc biệt, điều này sẽ có mối quan hệ mật thiết với các nhà tham vấn tâm lý, khi họ chú trọng sự giao tiếp mang tính tương giao và chất lượng của mối quan hệ trị liệu được cho là then chốt. Thêm vào đó, họ cũng sẽ đặt trọng tâm vào trải nghiệm chủ quan của thân chủ, tôn trọng thân chủ theo quan điểm của họ, ủng hộ sự đa dạng về cách nhìn chân lý, và xem trọng các phương pháp trị liệu khác nhau (Strawbridge & Woolfe, 2003).

Do đó, đối với các nhà tham vấn tâm lý,  dường như có thể đưa ra một suy đoán hợp lý rằng khi nói đến vai trò của định hình ca, thay vì xem nó như một phương pháp can thiệp để dẫn dắt, chỉ hướng hoặc điều khiển quá trình trị liệu, ta có thể xem nó như là một phần của quá trình trị liệu có tiềm năng tạo điều kiện thuận lợi cho trải nghiệm, nhận thức và sự hiểu biết trong trị liệu của thân chủ. Mặc dù phương pháp trên là một quá trình mang tính hợp tác, chúng ta vẫn luôn phải đặt trọng tâm vào câu chuyện của thân chủ, duy trì khung tham chiếu nội tại của thân chủ, với mục đích duy nhất là tạo điều kiện và thúc đẩy thân chủ hiểu rõ bản thân cũng như những khó khăn có liên quan của họ hơn. Joseph và Linley (2006) đã chỉ ra rằng vấn đề không nằm ở việc nhà trị liệu thực hiện được những gì mà thay vào đó là cách mà họ thực hiện. Mặc dù các tác giả có ý đề cập đến cách áp dụng việc đánh giá trong thực tiễn lâm sàng, ý tưởng trên cũng giống với khi ta nói đến việc áp dụng phương pháp định hình ca. Điều này có nghĩa là, ta hỏi thân chủ về việc liệu họ có đồng ý để những khó khăn của họ được định hình và chia sẻ lại với họ hay không. Với cách làm như vậy, ta cho thấy sự tôn trọng  tính tự chủ của thân chủ, trao cho họ sự lựa chọn trong việc chấp nhận hay từ chối phương pháp, và qua đó đảm bảo được rằng họ vẫn sẽ luôn duy trì được phương hướng của quá trình trị liệu.

Theo như Yalom (2001), các nhà trị liệu sẽ được xem như là những người bạn đồng hành cùng thân chủ của họ trong suốt hành trình trị liệu và qua đó mà phương pháp định hình ca sẽ đóng vai trò như một tấm bản đồ hay cuốn sổ tay hướng dẫn hữu ích trong quá trình mà cả thân chủ lẫn nhà trị liệu sẽ trải qua để đi vào những vùng đất chưa được khai phá trong tâm trí, cảm xúc, và các sự kiện quan trọng trong cuộc đời của thân chủ, các yếu tố đã đưa thân chủ đi đến thời điểm hiện tại khi họ tìm đến phiên trị liệu. Định hình ca sẽ hỗ trợ cho cả thân chủ lẫn nhà trị liệu trong việc thấu hiểu được điều đó. Hình 1 cho ta thấy một mô hình để tích hợp tư liệu ca lâm sàng của thân chủ vào trong khung lý thuyết nhân vị trọng tâm.

Để minh họa tường tận hơn, bài viết sẽ đặt ra cái nhìn tổng quan về hai ví dụ ca hư cấu được lồng ghép vào bản định hình ca trên.

Hình 1: Mô hình lý thuyết để tích hợp tư liệu của thân chủ vào định hình ca về những khó khăn tâm lý theo hướng nhân vị trọng tâm

Ví dụ ca lâm sàng 1

‘Anh Joe’ được một bác sĩ đa khoa giới thiệu để đi gặp tham vấn tâm lý do mắc phải những đợt trầm cảm và có suy nghĩ tự vẫn. Trong suốt hai phiên tham vấn đầu tiên, nhà tham vấn đã thấy rõ được rằng anh Joe đang gặp phải khó khăn trong việc chấp nhận hiện thực rằng bản thân mình là người đồng tính. Anh hiện đang 19 tuổi và sống tại nhà. Anh Joe cho rằng từ năm 14 tuổi anh đã ý thức được rằng mình là người đồng tính nhưng đã không muốn công nhận điều đó với chính bản thân mình. Anh đã dành suốt 5 năm qua để cố gắng tự thuyết phục bản thân rằng mình không phải là đồng tính bằng cách tiến tới các mối quan hệ với phụ nữ. Tuy nhiên, cho đến nay thì anh đã không còn khả năng phủ nhận việc anh không phải là người dị tính nữa, sau khi anh đã có vài lần tình một đêm với những người đàn ông mà anh gặp được ở trên mạng.

Theo quan điểm của trị liệu nhân vị trọng tâm thì ‘anh Joe’ đang ở trạng tình trạng bất hòa hợp nội tại vì anh vẫn chưa ‘bộc lộ’ xu hướng tính dục của mình, và vì thế mà anh đã tạo ra một lớp vỏ bọc ở bên ngoài để nói thế giới xung quanh rằng mình là một người đàn ông dị tính trong khi tâm trí anh biết rõ mình là người đồng tính. Trong suốt các phiên tham vấn, anh đã bàn luận về cái nhìn tiêu cực của gia đình mình về người đồng tính và họ cho rằng những người như vậy là ‘ghê tởm’, ‘bệnh hoạn’, ‘hoàn toàn sai trái’ và ‘vô đạo đức’. Thêm vào đó, gia đình còn kỳ vọng vào việc anh sẽ tìm được một người bạn đời khác giới để lập gia đình và ổn định cuộc sống. Ở tuổi 19, cha mẹ và các anh chị em của Joe đã thắc mắc rằng liệu anh đã có bạn gái hay chưa và nếu có thì khi nào anh mới giới thiệu bạn gái đến nhà để ra mắt gia đình mình. Mẹ anh cũng thường bày tỏ  mong muốn có được nhiều cháu chắt để sum vầy. Do vậy, anh Joe đã nhìn về tương lai của mình với sự bi quan và nỗi tuyệt vọng. Trên phương diện nhân vị trọng tâm, ta có thể cho rằng khuynh hướng hiện thực hóa của ‘anh Joe’ đã gặp phải những trở ngại được gây ra bởi các điều kiện cảm thấy xứng đáng về dị tính mà anh đã tiếp thu từ thuở nhỏ.

Một phần trong các phiên tham vấn khởi điểm sẽ xoay quanh việc ‘anh Joe’ khai phá các phản ứng của bản thân khi là người đồng tính và những tác động của điều này lên cuộc sống hiện tại và tương lai của anh. Dẫu vậy, điều khó khăn nhất đối anh chính là làm thế nào để nói với gia đình. Chính tại thời điểm này trong hành trình đấu tranh ‘nội tâm’ cho việc bộc lộ xu hướng tính dục, anh đi đến giai đoạn khủng khoảng khi tâm trạng trở nên vô cùng tồi tệ và anh đã bắt đầu có suy nghĩ tự vẫn khi anh ngày càng cảm thấy mệt mỏi để có thể duy trì lớp vỏ bọc dị tính bên ngoài trước gia đình và bạn bè. Anh có mặc cảm tội lỗi và xấu hổ vì là người đồng tính, anh lo sợ về quan niệm phản đối đồng tính mạnh mẽ từ phía gia đình anh và việc họ sẽ phản ứng như thế nào khi anh nói cho họ biết sự thật. Lúc này anh đã hoàn toàn bấn loạn nhưng đồng thời cũng không còn khả năng tiếp tục sống khác với con người thật của mình. Hình 2 là bản tóm tắt tạm thời về những nỗi khổ của ‘anh Joe’ được tích hợp vào trong một mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm.

Hình 2: Sơ đồ định hình tạm thời về các trở ngại tâm lý của ‘anh Joe’ được tích hợp vào mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm

Ví dụ ca lâm sàng 2

Cô Jen, 29 tuổi, hành nghề cố vấn pháp lý, được giới thiệu để đi gặp tham vấn tâm lý do gặp phải tình trạng trầm cảm và tự ti về bản thân. Trong suốt quá trình đánh giá, cô đã chia sẻ rằng trong thời gian gần đây cô đã được thăng chức và được xem là một trong những gương mặt sáng sủa và tiềm năng nhất trong công ty của cô. Nhìn từ bên ngoài thì cô cho rằng mình dường như đang có một cuộc sống ‘viên mãn’: một công việc ổn định, một cuộc sống xã giao bận rộn với bạn bè mặc dù cô chẳng hề đặc biệt thân thiết với ai. Trên thực tế, cô lại cho rằng bản thân mình khó gần với mọi người xung quanh và thường có cảm giác cô đơn. Cô không thể hiểu được vì sao mà những người khác lại có được cái nhìn tích cực về mình hay thậm chí là yêu mến cô, trong khi cô có thể thấy rõ được tất cả các khuyết điểm của bản thân.

Ba tháng trước, một khách hàng của công ty cô đã ra quyết định làm việc với một công ty khác và mặc dù quyết định trên đến từ nhiều yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của cô, Jen vẫn cảm thấy bản thân có lỗi. Cô đã gán ghép sự mất mát này với vị trí của mình khi được thăng chức. Trước đó cô đã được phân công làm việc với người khách hàng trên và giờ thì cô tự trách chính mình về quyết định của họ vì cô tin rằng mình đã không làm việc đủ chăm chỉ để cung cấp được một dịch vụ chất lượng. Kể từ đó, cô đã xem công việc của mình như một gánh nặng, không còn thích đi làm và cũng không còn có khả năng tập trung vào công việc. Trên thực tế, nếu cô thực sự thành thực với bản thân mình thì cô lại cảm thấy mình vô cùng bất hạnh và không còn tìm thấy niềm vui nào từ công việc đang làm.

Khi tìm hiểu sâu hơn thì biết được rằng cô là con một trong gia đình và đã phải trải qua một thời thơ ấu cô đơn và tách biệt với người xung quanh. Cha mẹ cô đều là luật sư phải đi làm nhiều giờ liền và kỳ vọng là cô cũng sẽ nối nghiệp cha mẹ đi theo con đường này. Về phần mình, Jen lại muốn làm y tá nhưng không lại được bố mẹ ủng hộ. Làm việc trong một nghề đòi hỏi phải thể hiện cảm xúc và chăm sóc cho người bệnh không phải là điều không thể tưởng tượng đối với cha mẹ cô. Tuy nhiên, vì cô rất yêu thương và tôn trọng cha mẹ mình nên đã tin tưởng vào sự phán đoán của họ rằng điều gì mới tốt nhất cho mình. Họ coi trọng thành tích học tập và tinh thần chịu khó trong công việc. Bên cạnh đó, họ cũng không khuyến khích cô kết bạn với người khác. Trên thực tế, cha mẹ cô cho rằng hầu hết những con người xung quanh đều không đáng tin cậy. Theo như mô tả của cô thì mối quan hệ giữa cô và cha mẹ bị thiếu đi sự gắn kết về mặt tình cảm khiến cho cô cảm thấy họ rất xa cách và tách biệt về mặt cảm xúc. Theo như cảm nhận của bản thân, cô thấy mình chưa bao giờ được yêu thương và bị bố mẹ cấm đoán trong việc bày tỏ tình thương. Tuy là một người có thành tích cao, Jen cho rằng bố mẹ cô luôn thúc đẩy cô đạt được những điều cao xa hơn. Cô không thể nhớ nổi có lúc nào đó ở quá khứ mà cha mẹ cảm thấy hãnh diện về cô, khen ngợi cô hay ủng hộ cô. Thậm chí ngay cả việc cô được thăng chức trong thời gian gần đây cũng không nhận được bất kỳ một phản ứng tích cực nào từ cha mẹ. Hơn thế nữa, khi cô chia sẻ với cha mẹ về việc đánh mất đi một khách hàng của công ty thì họ lại cho rằng đấy là lỗi của cô và đấy là bằng chứng cho thấy rằng cô ‘không phù hợp với công việc’ hay ‘không xứng đáng để được thăng chức’.

Theo góc nhìn của trị liệu nhân vị trọng tâm, ta có thể hiểu rằng những tiêu chuẩn về giá trị mà Jen tiếp thu từ thuở nhỏ đều xoay quanh đến việc học thật tốt, làm việc chuyên nghiệp, và luôn cố gắng trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình. Điều quan trọng là cô phải luôn gắng sức làm hài lòng cha mẹ và sống đúng với kỳ vọng mà họ đặt ra cho cô. Các mối quan hệ không được xem trọng và việc bộc lộ cảm xúc là dấu hiệu của sự yếu đuối, điều này đã khiến cho cô gặp khó khăn trong việc kết thân với những người xung quanh. Trong nhiều năm trời, cô đã dốc sức nỗ lực để trở thành một người trong kỳ vọng của bố mẹ thay vì theo đuổi một công việc mà cô cho đáng giá và bộc lộ con người thật của mình, một người ân cần muốn được chăm sóc cho người khác. Như vậy, khuynh hướng hiện thực hóa của cô đã gặp phải trở ngại và cô đã rơi vào trạng thái xung đột bất nhất khi công ty của cô bị mất đi một khách hàng, mặc dù cô được thăng chức, cột mốc chứng minh sự thành công của cô. Việc cô tự đổ lỗi cho bản thân trước sự mất mát này ngay cả khi có bằng chứng cho thấy điều ngược lại đã khiến cho cô làm vào tình trạng trầm cảm, làm dấy lên cảm giác tự ti và xa lánh những người xung quanh. Làm tình trạng xung đột này trầm trọng hơn chính là việc cô nhận ra rằng bản thân mình không muốn dấn thân vào nghề cố vấn pháp lý nữa và trên thực tế cô chưa bao giờ muốn làm nghề này. Bản ngã mà cô đã thể hiện ra trước thế giới xung quanh mình chỉ đơn thuần là một cái vỏ bọc (theo như Hình 3).

Cả hai ví dụ ca lâm sàng được nêu trên và bản định hình những khó khăn của họ trong khung lý thuyết nhân vị trọng tâm giúp cho các thân chủ thấy được các mối liên hệ hay ‘liên kết các điểm’ trong cuộc đời của họ lại với nhau từ thời thơ ấu cho đến hiện tại để có được cái nhìn tổng quan về cách mà những nỗi khổ cụ thể của họ khởi phát, tồn đọng và kéo theo đó là những tác động đến nhận thức, cảm xúc, hành vi và các trở ngại trong quan hệ giữa các cá nhân. Phương pháp định hình ca lâm sàng sẽ giúp nhà tham vấn tâm lý có được cái nhìn thấu suốt vào thế giới quan của thân chủ và hiểu rõ hơn bản chất cá nhân độc nhất của vấn đề trong thân chủ. Phương pháp này cũng có thể tạo điều kiện cho nhà tham vấn thấu hiểu được thân chủ thông qua việc giúp nhà tham vấn khai sáng được ý nghĩa của các sự kiện và tầm ảnh hưởng của chúng lên các cá nhân. Thêm vào đó, phương pháp sẽ giúp chúng ta đảm bảo được sự tuân thủ theo mô hình lý thuyết vì quan điểm căn bản của lý thuyết và thực hành nhân vị trọng tâm chính là việc xóa bỏ những điều kiện về giá trị trong suốt quá trình trị liệu như một phương tiện cải thiện sức khỏe tinh thần. Như Joseph và Linely (2006, tr.43) đã nói: ‘… tuy khuynh hướng hiện thực hóa là động lực thúc đẩy duy nhất trong chúng ta, nó sẽ gặp phải trở ngại và bị kìm hãm bởi các điều kiện về giá trị mà ta tiếp thu từ bên ngoài.’ Mô hình trên chính là một phương tiện mà qua đó nhà trị liệu có thể nắm bắt được mối liên hệ giữa tất cả các yếu tố trên và cách thức mà chúng có thể trở thành các trở ngại của thân chủ.

Hình 3: Sơ đồ tổng hợp sơ bộ về các trở ngại tâm lý của ‘cô Jen’ được tích hợp vào mô hình lý thuyết theo hướng nhân vị trọng tâm

Kết luận

Mục đích của bài báo này là bàn luận về vai trò của phương pháp định hình ca trong mô hình nhân vị trọng tâm đối với các nhà tham vấn tâm lý và liệu rằng một phương pháp thường bị phê phán là một quy trình đậm tính ‘kỹ thuật’ phù hợp với mô hình y tế có có thực sự phù hợp với đạo đức, triết lý và thực hành của nghề nghiệp và nền tảng lý thuyết của phương pháp này hay không. Dù dữ liệu nghiên cứu trong lĩnh vực trên vẫn có sự hạn chế cùng với sự nhấn mạnh về các tác động tiêu cực từ việc áp dụng phương pháp định hình ca trong thực hành lâm sàng thường quy, tác giả đã đưa lên quan điểm rằng phương pháp trên vẫn sẽ đóng một vai trò hữu ích khi được đặt trong mô hình nhân vị trọng tâm dựa trên lý thuyết. Hơn thế nữa, chúng ta có thể yên tâm áp dụng phương pháp trong thực hành lâm sàng thường xuyên miễn là nó được thực hiện theo phương hướng tôn trọng quyền lựa chọn, tự chủ và kiến thức chuyên sâu của thân chủ. Việc duy trì trong khung tham chiếu của thân chủ sẽ giúp ta đảm bảo được việc tạo điều kiện để họ kể lại câu chuyện của mình theo phương hướng có thể đặt họ vào vị thế của chuyên gia và xem họ là ‘tác giả’ độc nhất của cuộc đời họ. Vai trò của nhà tham vấn tâm lý chính là lắng nghe câu chuyện này, suy ngẫm lại những chi tiết và xâu chuỗi lại các mảnh ghép mỏng manh từ cuộc đời của thân chủ để giúp họ hiểu được chính câu chuyện của họ. Chỉ với thông tin mà thân chủ cung cấp. Để tuân thủ theo mô hình nhân vị trọng tâm, nhà tham vấn tâm lý cần phải tránh việc suy diễn hay tô vẽ các thông tin đã được cung cấp. Ta có thể hỗ trợ và cải thiện quá trình này thông qua việc tận dụng mô hình sơ đồ bản công thức tóm gọn theo hướng nhân vị trọng tâm đã được phác thảo. Bằng cách làm này, ta có thể củng cố sự hiểu biết, khả năng nhận thức, thấu hiểu của thân chủ và củng cố liên minh trị liệu do nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó có thể gia tăng sự đồng cảm. Việc giữ vững khung tham chiếu của thân chủ sẽ giúp chúng ta đảm bảo được lập trường không phán xét, khuyến khích sự phát triển cá nhân và tiềm năng của thân chủ để đảm bảo được phương pháp tiếp cận nhân vị trọng tâm sẽ luôn được duy trì.

(Quang Thái dịch, ThS. Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính)

Counselling Psychology Review, Vol. 26, No. 2, June 2011

Correspondence

Jane Simms

Chartered Counselling Psychologist,

University of Ulster,

School of Communication,

Newtownabbey,

County Antrim,

BT37 OQB,

Northern Ireland.

Tel: 02890 366957

Email: j.simms@ulster.ac.uk

Tài liệu tham khảo

Bennett, P. (2003). Abnormal and clinical psychology: An introductory text. Maidenhead: Open Univer- sity Press.

Berghofer, (G. (1996). Dealing with schizophrenia – a person-centred approach to long-term patients in a supported residential service in Vienna. In S. Joseph & R. Worsley (2007), Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Binder, U. & Binder, H. (1991). Studien zu einer Storungsppezifischen Klienzentrierten Psycho- therapie. In S. Joseph & R. Worsley (2007), Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Blackburn, I.M., James, I.A. & Flitcroft, A. (2006). Case formulation in depression. In N. Tarrier, Case formulation in cognitive behaviour therapy. London: Routledge.

Boyle, M. (2001). Abandoning diagnosis and (cautiously). adopting formulation. Paper presented at the British Psychological Society Centenary Conference, Glasgow.

Bozarth, J.D. (1998). Person-centred therapy: A revolu- tionary paradigm. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Bozarth, J.D. (2000). Non-directiveness in client-centred therapy: A vexed concept. Paper presentation at the Eastern Psychological Association, Baltimore. www.personcentered.com/nondirect.html

British Psychological Society (2010). Guidance for Counselling Psychology Programmes. September. http://www.bps.org.uk/partnership.

Butler, G. (1998). Clinical formulation. In L. John- stone & R. Dallos (2006). Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routledge.

Chadwick, P., Williams, C. & Mackenzie, J. (2003). Impact of case formulation in cognitive behaviour therapy for psychosis. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.

Cooper, M. (2007). Person-centred therapy: Myth and reality. http://www.strath.ac.uk/Departments/counsunit/ features/article_pct.html

Dallos, R. & Stedmon, J. (2006). Systemic formula- tion: Mapping the family dance. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge. Eells, T.D., Kendjelic, E.M. & Lucas, C.P. (1998). What’s in a case formulation? Development and use of a Content Coding Manual. Journal of Psychotherapy Practice and Research, 7(2), 144–153.

Eells, T.D. (2007). Handbook of psychotherapy case formu- lation. New York: Guilford Press.

Eells, T. D. (2009). Contemporary themes in case formulation. In P. Sturmey (2009). Clinical case formulation: Varieties of approaches. UK: Wiley- Blackwell.

Evans, G. & Parry, J. (1996). The impact of reformula- tion in cognitive analytic therapy with difficult to help clients. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routledge.

Gillon, E. (2007). Person-centred counselling psychology: An introduction. London: Sage.

Gibbard, I. (2008). ‘In the world, but not of it’: Person-centred counselling in primary care. In K. Tudor, Brief person-centred therapies. London: Sage.

Health Professions Council (2009). Standards of Profi- ciency – Practitioner Psychologists. www.hpc-uk.org.

Johnstone, L. (2006). Controversies and Debates about Formulation. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.

Johnstone, L & Dallos, R. (2006). Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.

Joseph, S. & Linley, P.A. (2006). Positive therapy. London: Routledge. Leiper, R. (2006). Psychodynamic formulation. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.

Maddil , A., Widdicombe, S. & Barkham, M. (2001). The potential of conversation analysis for psychotherapy research. In L. Johnstone & R. Dallos (2006), Formulation in psychology and psychotherapy: Making sense of people’s problems. London: Routeledge.

Masson, J. (1990). Against therapy. London: Fontana. Mearns, D. (1997). Person-centred counselling training. London: Sage.

Mearns, D. & Thorne, B. (2006). Person-centred therapy today: New frontiers in theory and practice. London: Sage.

Mearns, D. & Cooper, M. (2005). Working at relational depth in counselling and psychotherapy. London: Sage.

Proctor, G. (2002). The dynamics of power in counselling and psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Rogers, C. (1951). Client-centred therapy. London: Constable & Robinson Ltd.

Roy-Choudry, S. (2003). What is this thing called Psychotherapy? Clinical Psychology, 29, 7-11.

Ryle, A. (1995). Cognitive analytic therapy: develop- ments in theory and practice. UK: Wiley.

Schmid, P.F. (1992). Das Lieden. In In S. Joseph & R.Worsley (2007). Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Schmid, P.F. (2003). The characteristics of a person- centred approach to therapy and counselling: criteria for identity and coherence. In P. Wilkins, Being person-centred. Self and Society, 34(3).

Sim, K., Gwee, Kok Peng & Bateman, A. (2005). Case formulation in psychotherapy: Revitalising its usefulness as a clinical tool. Academic Psychiatry, 29(3), July–August.

Stiles, W.B. (2001). Future directions in research on humanistic psychotherapy. In S. Joseph & R.Worsley (2007). Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Strawbridge, S. & Woolfe, R. (2003). Counselling psychology in context. In R. Woolfe, W. Dryden, & S. Strawbridge, Handbook of counselling psychology. London: Sage.

Stuart, S. & Robertson, M. (2003). Interpersonal psychotherapy: A clinicians’s guide. London: Hodder Arnold.

Sturmey, E. (2009). Clinical case formulation varieties of approaches. West Sussex: John Wiley & Sons Ltd.

Sommerbeck, L. (2007). An evaluation of research, concepts and experiences pertaining to the universality of CCT and its application in psychi- atric settings. In S. Joseph & R.Worsley, Person- centred psychopathology. Ross-on-Wye: PCCS Books.

Tarrier, N. (2006). Case formulation in cognitive behav- ioural therapy. London: Routledge.

Tudor, K. (2008). Brief person-centred therapies. London: Sage.

Tudor, K. & Merry, T. (2002). A dictionary of person- centred psychology. London: Whurt.

Weissman, M.M., Markowitz, J.C. & Klerman, G.L. (2000). Comprehensive guide to interpersonal psychotherapy. New York: Basic Books.

Wilkins, P. & Gill, M. (2003). Assessment in person- centred therapy. Person-centred and experiential ther- apies, 2, 172–187.

Wilkins, P. (2005). Assessment and diagnosis in person-centred therapy. In S. Joseph & R. Worsley, Person-centred psychopathology: A positive psychology of mental health (pp.128–145). Ross-on- Wye: PCCS Books Ltd.

Wilkins, P. (2006). Being person-centred. Self and Society, 34(3).

Yalom, I. (2001). The gift of therapy. London: Piatkus Books.

Leave a comment