JOHN K. MCPHERRIN

MỞ ĐẦU
Mười lăm năm về trước, rất khó có thể tìm được các thông tin hay bài báo nói về trị liệu cặp đôi và gia đình thân chủ trọng tâm khi bạn có nhu cầu muốn thực hành. Các bài báo vào thời đó đã làm rất tốt việc phác thảo được nguyên tắc cơ bản của liệu pháp trên, nhưng lại không đề cập đến các nan đề và những thách thức trong trị liệu do liệu pháp hẳn vẫn còn mới lạ. Kể từ khi đó, giới nghiên cứu đã viết ra thêm các bài báo về chủ đề trên, tuy nhiên các ấn phẩm này thường không được xuất bản hoặc thường rất khó để tìm đọc. Chương sau đây sẽ trình bày rõ ràng về các cách thức dành cho các nhà lâm sàng quan tâm đến việc thực hiện trị liệu phi điều hướng dành cho cặp đôi và gia đình, và đi sâu vào các câu hỏi về bản chất của tính điều hướng trong liệu pháp này dựa trên 15 năm kinh nghiệm thực hành và quá trình thử-và-sai đáng cân nhắc. Trước khi đi vào chủ đề này, ta sẽ trình bày vắn tắt lịch sử phát triển của cách tiếp cận này để có được bối cảnh cụ thể nhằm mục đích hiểu rõ các vấn đề hơn.
NỀN TẢNG TRỊ LIỆU CẶP ĐÔI/GIA ĐÌNH THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Cũng giống như trong trị liệu cá nhân thân chủ trọng tâm, các nhà trị liệu gia đình thân chủ trọng tâm có phương pháp tiếp cận dựa trên niềm tin về khuynh hướng hiện thực hóa cũng như khuynh hướng tạo thành (Thayer, 1982; Bozarth và Shanks, 1989; Gaylin, 1990). Khuynh hướng hiện thực hóa là khuynh hướng vốn có trong mỗi người, hướng họ đến việc duy trì cũng như cải thiện bản thân và là yếu tố xúc tác duy nhất cho mọi động lực, sự phát triển và nâng cao bản thân ở con người (Bozarth and Brodley, 1991: 40). Chính khuynh hướng này sẽ giúp các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm có lòng tin sâu sắc không chỉ vào cá nhân mà còn vào gia đình và cặp đôi. Do đó, nhà trị liệu không nhất thiết phải làm việc với lối ứng xử đầy độc đoán, cũng không cần chẩn đoán hay thiết lập lại các cặp đôi/gia đình theo những phương hướng mà nhà trị liệu cho là lành mạnh hơn. Thay vào đó, người ta tin rằng một mối quan hệ mang tính trị liệu đặc trưng bởi những phẩm chất như sự thấu hiểu, chấp nhận vô điều kiện, và sự chân thật, là đủ để khuyến khích các khuynh hướng hiện thực hóa tự nhiên trong mỗi thành viên nhằm giúp họ vượt qua các sự ảnh hưởng của các hoàn cảnh bất lợi hoặc nguy hại có khả năng đã tác động đến các cá nhân trong một cặp đôi/gia đình (Bozarth and Brodley, 1991: 47).
Khuynh hướng tạo thành là một khái niệm được Rogers (1980) phát triển muộn hơn, là cái mà ông xem là một xu hướng phổ quát trong vạn vật hướng đến trật tự cao hơn và sự phức tạp có tính tương liên (Thayer, 1982: 175). Khái niệm trên lý giải khía cạnh hệ thống của một gia đình, cho thấy rằng khi ta cung cấp được một môi trường trị liệu phù hợp thì các gia đình và cặp đôi sẽ tiến đến sự cải thiện và tính trật tự. Bozarth and Shanks (1989) đã viết rằng:
…ta có thể sử dụng khái niệm khuynh hướng tạo thành kết hợp với quan điểm hiện tượng học như một mô hình để xem xét các gia đình như những hệ thống sẽ hướng đến sự cải thiện khi ta cung cấp được một môi trường trị liệu thuận lợi. Mô hình, trong trường hợp này, là một cấu trúc gia đình kết hợp cả phương thức hiện thực hóa cá nhân sinh thể và khuynh hướng tạo thành. (tr. 282)
NGUỒN GỐC CỦA TRỊ LIỆU GIA ĐÌNH THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Nathaniel Raskin và Ferdinand van der Veen (1970) đã là những người đầu tiên đề cập đến quan điểm thân chủ trọng tâm áp dụng cho trị liệu gia đình. Họ đã chỉ ra rằng việc trị liệu cho các gia đình sẽ không cần thiết phải thay thế các điều kiện trị liệu cơ bản như ông Rogers (1957) đã nêu, cũng không đòi hỏi thay thế vai trò và thái độ của nhà trị liệu. Tuy nhiên, họ cho rằng sự xuất hiện tính chân thật của nhà trị liệu – điều kiện trị liệu thứ ba của liệu pháp thân chủ trọng tâm – sẽ đặc biệt hỗ trợ cho việc mở rộng liệu pháp này ra khỏi phạm vi cá nhân.
Theo họ khẳng định, sự chân thật từ nhà trị liệu sẽ giúp họ có được một biên độ biểu cảm rộng hơn so với những gì thường thấy trong trị liệu cá nhân thân chủ trọng tâm. Việc nhà trị liệu được tự do biểu đạt hơn sẽ giúp phương pháp trị liệu thân chủ trọng tâm thuận lợi hơn khi làm việc với nhiều hơn một người. Họ nhận thấy rằng, trong bối cảnh gia đình, nhà trị liệu có thể tương tác tự do hơn, chẳng hạn như đưa ra các gợi ý hoặc các quan điểm, nhưng đồng thời cũng phải nương theo những phản ứng từ phía gia đình. Với tư cách là người tham gia vào quá trình trị liệu, nhà trị liệu có thể đi theo bản năng và cảm giác của họ, miễn là các yếu tố trên không xâm phạm đến sự tự do của các cặp đôi hay gia đình trong việc xác định điều gì là tốt nhất cho chính họ.
Một ý tưởng đáng lưu ý khác được Raskin và van der Veen đưa ra là khái niệm gia đình. Trên thực tế, khái niệm gia đình về cơ bản chính là sự phát triển của khái niệm về cái tôi (Rogers, 1959), một trong các nguyên tắc cơ bản của Rogers về việc thấu hiểu con người, nói một cách ngắn gọn, chính là sự nhận thức về bản thân dựa trên các tương tác với những người thân thiết khác trong môi trường xung quanh. Khái niệm gia đình chỉ đơn giản là tiến thêm một bước, cân nhắc đến tầm quan trọng và ảnh hưởng của gia đình và đời sống gia đình đến sự phát triển và sức khỏe tinh thần tổng thể của một người.
Ronald Levant (1978, 1984) đã tiếp nối công trình của Raskin và van der Veen thông qua việc mở rộng liệu pháp trên để áp dụng cho các gia đình và cặp đôi. Ông đã đối chiếu liệu pháp gia đình thân chủ trọng tâm với các hệ thống và phương pháp tiếp cận gia đình theo lý thuyết tâm động học mà ông cho là có khả năng gây hại cho các cá nhân tham gia khi tính điều hướng và kiểm soát quá cao. Levant (1978) đã cho rằng việc kiểm soát như vậy sẽ phớt lờ đi các yếu tố gắn liền với các kết quả tích cực trong trị liệu – sự thấu cảm, ấm áp, và chân thật (Bergin, 1967; Truax và Carkhuff, 1967; Truax và Mitchell, 1971) – và có thể dẫn đến tổn thương lòng tự trọng, giảm khả năng tự điều hướng, khiến bản thân càng xa rời trải nghiệm hơn (tr. 36).
Levant cũng đã kịch liệt chỉ trích những thái độ bi quan trong các phương pháp tiếp cận hệ thống gia đình và tâm động học khi nói đến tính khả thi và sự sẵn lòng thay đổi của các gia đình khi để mặc cho các thành viên tự quyết định. Ông cho biết rằng các khái niệm về sức đề kháng và cân bằng nội môi trái ngược với niềm tin vào một quá trình tự điều hướng, điều mà Levant coi là thiết yếu để một sự thay đổi đúng nghĩa diễn ra trong gia đình. Đồng thời, ông cũng không hoàn toàn bỏ qua các yếu tố cốt lõi của cà hai liệu pháp. Khi đề xuất một quan điểm hiện tượng học về gia đình, ông Levant đã tìm cách kết nối các niềm tin nội tâm của các nhà thực hành tâm động học với các niềm tin mang tính hệ thống của các nhà thực hành hệ thống bằng cách khẳng định rằng các tác động ngoại tại và nội tại đều chi phối cách mà con người liên hệ, hành xử và cảm nhận trong gia đình của họ.
Levant đã giải thích thêm rằng nhà trị liệu thân chủ trọng tâm sẽ không quan tâm đến việc tìm hiểu kỹ càng lai lịch gia đình, chẩn đoán, vẽ ra phác đồ điều trị, cũng không áp dụng bất cứ các kỹ thuật trị liệu nào. Thay vào đó, vai trò của nhà trị liệu là thấu hiểu được mỗi thành viên trong gia đình và truyền đạt lại sự thấu hiểu đó cho họ, đồng thời tạo nên một bầu không khí tôn trọng, trung thực, tin tưởng và thấu hiểu lẫn nhau, từ đó giúp họ giải phóng các khả năng vốn có của gia đình trong việc thay đổi, tái tổ chức hoặc hành động theo những cách có thể thúc đẩy sự thay đổi, phát triển, và chữa lành. Louis Thayer (1982) đã đưa ra bản tóm tắt toàn diện về liệu pháp gia đình thân chủ trọng tâm. Thayer đã chỉ ra hai chức năng có ý nghĩa đặc biệt của nhà trị liệu gia đình thân chủ trọng tâm, phù hợp với những luận điểm mà Raskin và van der Veen (1970) và Levant (1982) đã nêu trong công trình nghiên cứu của họ. Một là, nhà trị liệu phải nhận thức được trải nghiệm cá nhân trong phiên trị liệu và liên hệ các ý nghĩ và cảm xúc đó với gia đình. Hai là, nhà trị liệu phải tin tưởng và bộc lộ các cảm nhận trực giác, tránh việc lúc nào cũng phụ thuộc vào lý luận và trí tuệ để thấu hiểu và tương tác với gia đình. Tuy nhiên, Thayer đã không chỉ rõ phạm vi các kiểu giao tiếp cá nhân trên có thể tiến xa đến đâu.
SỰ PHỨC TẠP CỦA TÍNH CHÂN THẬT/HÒA HỢP
Ned Gaylin (1989) chỉ ra rằng Rogers đã định nghĩa sự hòa hợp của nhà trị liệu là khi họ được tự do là chính mình hoàn toàn (p. 271). Thái độ cởi mở với trải nghiệm (tr. 271) hay sự tự tin của nhà trị liệu sẽ giúp họ thấy được bản thân mình và thân chủ một cách chính xác và rõ ràng. Tuy nhiên, rất khó để ta biết được điều này sau đó đã chuyển thành liệu pháp gia đình như thế nào, đặc biệt là khi một số nhà trị liệu đặt nặng tính chân thật hơn khi thực hành trị liệu gia đình (Levant, 1982; Raskin và van der Veen, 1970). Một số nhà thực hành thân chủ trọng tâm đã bày tỏ niềm tin của họ về tầm quan trọng của tính chân thật từ nhà trị liệu trong các phiên làm việc với gia đình, nhưng việc thể hiện thái độ này cụ thể đòi hỏi những hành vi nào thì vẫn còn mơ hồ (Bozarth và Shanks, 1989; Gaylin, 1989; O’Leary, 1989; Rombauts và Devriendt, 1990). Qua việc thu thập kết quả khảo sát từ 15 nhà trị liệu thân chủ trọng tâm, Jan Rombauts và Monica Devriend (1990) đã khẳng định rằng các nhà trị liệu này có sự khác biệt ở mức độ thể hiện các phản ứng chủ quan trong trị liệu cặp đôi. Đa số các nhà trị liệu đều đồng ý rằng việc tránh các phản ứng cá nhân là điều quan trọng vì nó sẽ làm hao tổn năng lượng mà họ vốn dĩ nên dùng để thấu hiểu trải nghiệm của mỗi thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, cũng có người đồng thuận rằng họ đều đã được trải nghiệm cả phản ứng tích cực lẫn tiêu cực trong suốt quá trình.
Bozarth và Shanks (1989) đã định nghĩa sự chân thực của nhà trị liệu là khi họ được là chính mình trong mối quan hệ mà không cần phải mang lớp mặt nạ chuyên nghiệp hay cá nhân giả tạo (tr. 283). Đối với họ, trong trị liệu cặp đôi, việc này được hiểu là thỉnh thoảng sử dụng trải nghiệm cá nhân để nhìn lại sự hiểu biết, và cũng có nghĩa là có cảm thấy thoải mái trong việc chia sẻ các hình ảnh và ẩn dụ mang tính cá nhân mà bản thân nghĩ ra trong phiên trị liệu để hỗ trợ và truyền đạt những gì mình thấu hiểu một cách hiệu quả.
Trong phiên trị liệu cặp đôi của mình, Barbara Brodley đôi lúc đã đưa ra cái mà bà gọi là ‘phản ứng tự phát’ (1953). Các phản ứng này sẽ bao gồm các phương hướng giao tiếp và hành vi, và những lời khẳng định trực tiếp về các ý tưởng, quan niệm, và các trải nghiệm trong quá khứ của bà. Mặc dù các phản ứng tự phát không xuất hiện nhiều trong công việc của bà Brodley, chúng xuất phát từ cảm nhận của bà rằng thân chủ có lẽ sẽ quan tâm đến lời nói của bà và có thể nhìn nhận được vấn đề hay khó khăn họ gặp phải là ‘bình thường’ hơn dựa trên việc giao tiếp cá nhân của bà. Những phản ứng tự phát không phải lúc nào cũng có liên quan đến những gì mà thân chủ đang bày tỏ; theo Carol Topping (1993), thân chủ không nhất thiết phải yêu cầu hay mong chờ các phản ứng này, nhưng lại vẫn thấy giá trị của chúng (p. 115), và việc cố giữ chúng sẽ tạo nên sự bất hòa trong nhà trị liệu.
SỰ ĐIỀU HƯỚNG TỪ NHÀ TRỊ LIỆU
Trong quá trình tìm hiểu vấn đề về cách thể hiện sự chân thật từ nhà trị liệu khi làm việc với cặp đôi/gia đình, ta sẽ tự nhiên đặt ra một câu hỏi là liệu phương pháp tiếp cận này có mất đi nền tảng phi điều hướng hay không khi nhà trị liệu quá tự do trong việc bộc lộ chính mình dưới danh nghĩa tính chân thật, hòa hợp.
Khi mô tả quá trình làm việc của mình với các gia đình, Wayne Anderson (1989) đã chia sẻ rằng đôi lúc ông sẽ tạo điều kiện để có thể “chuyển đổi góc nhìn” bằng việc lắng nghe quan điểm của một người về một vấn đề, phản hồi một cách thấu cảm, rồi sau đó hỏi về các góc nhìn khác trong cùng một vấn đề trên.
Ông nhận thấy điều này đã giúp cho các gia đình học được cách giao tiếp một cách trực tiếp hơn theo hướng xây dựng. Tương tự, bà Barbara Brodley đôi lúc cũng đã tạo dựng nên kiểu chuyển đổi trên trong công việc trị liệu cho cặp đôi của bà bằng việc hỏi một thân chủ là liệu họ có muốn hồi đáp lại khi đối phương nói chuyện hay không (Topping, 1993). Kiểu chuyển đổi này đến từ mong muốn của bà Brodley trong việc cho các cặp đôi tránh tình trạng bạo lực cảm xúc trong suốt quá trình trị liệu và cũng là để cân bằng việc sử dụng thời gian cũng như sự chênh lệch quyền lực giữa những cặp đôi. Thêm vào đó, bà Brodley đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp bằng cách đưa ra các phản ứng theo đúng định hướng mục tiêu trong các phiên trị liệu cặp đôi (Topping, 1993). Bà Brodley đã cảm nhận được sự quan trọng trong việc cả hai bên có đồng quan điểm về các chủ đề thảo luận vì cả hai người đều phải sẵn lòng lắng nghe người còn lại vào bất cứ khoảnh khắc nào để cuộc đối thoại trở nên đáng giá. Nếu hai bên không đồng lòng với nhau thì chủ đề đó sẽ không được nhắc lại trong phiên trị liệu đó.
Bà Margaret Warner (1986) đã thực hành cái mà bà gọi là ‘gia sư giao tiếp’ trong thực hành trị liệu gia đình của mình. Dựa trên công trình nghiên cứu về giao tiếp của Gorgon (1972), Rosenberg (1976) và Guerney (1977), bà Warner đã mời các thân chủ giải thích về các khía cạnh còn thiếu trong việc giao tiếp của họ để ‘gia tăng khả năng thấu hiểu và giải quyết vấn đề mang tính xây dựng trong quan hệ’ (1986: 24). Sau cùng, bà Warner cảm thấy rằng trải nghiệm tăng cường sự thấu cảm và khả năng giải quyết vấn đề sẽ xây dựng được niềm tin trong mối quan hệ, từ đó tạo điều kiện cho nỗ lực giao tiếp cởi mở về sau.
Warner (1993) cho rằng, mặc dù có sự khác biệt trong các phong cách trị liệu tâm lý, một mối quan hệ trị liệu và tiến trình trị liệu nhiều tương đồng vẫn sẽ hình thành giữa các nhà trị liệu có mức độ áp đặt tương đương nhau và có cùng quan điểm về việc nên đưa bao nhiêu yếu tố bên ngoài vào khung tham chiếu của thân chủ.
Nói cách khác, những hiện tượng trị liệu vô cùng giống nhau sẽ xảy ra khi các nhà trị liệu có mức độ can thiệp tương tự nhau; tức là họ đưa các yếu tố từ bên ngoài vào trong góc nhìn của thân chủ với cùng một mức độ.
Theo quan điểm của bà Warner, các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm có thể đưa thêm các ý niệm từ bên ngoài khung tham chiếu cá nhân của thân chủ vào mối quan hệ trị liệu mà không làm mất đi giá trị của sự phi điều hướng, miễn là nhà trị liệu có được một quan hệ thấu cảm sâu sắc với thân chủ, trình bày các ý niệm theo phương hướng mà thân chủ có thể dễ dàng lựa chọn việc không theo đuổi chúng, và giữ vững niềm tin rằng chính thân chủ sẽ là người kiểm soát quá trình trị liệu.
Tuy nhiên, bà đã đưa ra lời cảnh báo cần tránh việc tạo ra các điều kiện để cảm thấy xứng đáng với thân chủ khi giới thiệu các ý niệm trên. Nếu nhà trị liệu tiếp cận thân chủ với sự hiểu biết rằng con người bẩm sinh có khuynh hướng tự điều hướng trong suốt quá trình xử lý thông tin, tiến tới một quan hệ tích cực, và nếu họ củng cố các điều kiện như sự thấu cảm, nhìn nhận một cách tích cực vô điều kiện, và tính chân thật/hòa hợp, thì đó vẫn là phương pháp trị liệu thân chủ trọng tâm, dù cho có sự khác biệt trong phong cách.
Theo bà Brodley (1993), có một sự lầm tưởng về thái độ tự điều hướng đó là nhà trị liệu phải cố gắng để tránh nói ra bất cứ điều gì từ khung tham chiếu cá nhân của chính họ. Trái lại, bà Brodley cho rằng biểu hiện sâu sắc nhất của thái độ phi điều hướng có thể chính là việc đưa ra những phản hồi từ chính khung tham chiếu của nhà trị liệu khi được yêu cầu, như một cách để tôn trọng ý muốn của thân chủ (tr. 141). Brodley và Brody (1994) nhận định rằng ta có thể sử dụng các kỹ thuật trong trị liệu thân chủ trọng tâm, miễn là ta không tiếp cận chúng từ tư duy chẩn đoán. Có nghĩa là, một nhà trị liệu thân chủ trọng tâm không được đưa ra các kỹ thuật từ vị thế của một người biết rõ điều gì là tốt nhất cho thân chủ hay xác định cái gì là không đúng với thân chủ và quyết định những gì mà họ cần phải làm để trở nên tốt hơn. Tuy nhiên, một nhà trị liệu lấy thân thủ làm trọng tâm có thể đưa ra các kỹ thuật để phản ứng với các yêu cầu hay câu hỏi của thân chủ, miễn là chúng không gây cản trở khả năng của nhà trị liệu trong việc duy trì các điều kiện trị liệu thiết yếu như sự thấu cảm, sự quan tâm tích cực vô điều kiện, và tính chân thật khi làm như vậy.
Raskin (1988) dường như đồng ý với góc nhìn của Brodley và Brody (1994), cho rằng nhà trị liệu không nên để bản thân bị ràng buộc bởi các quy tắc trong quá trình trị liệu. Tuy nhiên, ông đã lưu ý rằng ta sẽ mắc phải sai lầm về thái độ một khi nhà trị liệu bắt đầu hình thành định kiến sẵn có trong việc làm thế nào để thay đổi được thân chủ, và hướng đến mục tiêu này theo một cách có hệ thống.
Ông đã giải thích rằng ta sẽ có một phạm vi mà trong đó các nhà trị liệu có thể thể hiện các điều kiện cốt lõi của liệu pháp thân chủ trọng tâm:
Nhà trị liệu có thể đi xa hơn, cả theo hướng tự phát và phi hệ thống, đưa ra các phản ứng, gợi ý, đặt câu hỏi, cố gắng hỗ trợ thân chủ trải nghiệm những cảm xúc, chia sẻ các diện mạo trong đời sống của họ, vân vân, đồng thời duy trì sự tôn trọng cơ bản và liên tục đối với thân chủ như là người điều hướng cho cả tiến trình. Đây có thể được xem là liệu pháp tập trung cá nhân ở mức độ tối ưu, khi một nhà trị liệu tự do trong tâm trí, chấp nhận xem thân chủ như người dẫn đường và đồng thời không bị bó buộc bởi các quy tắc (tr. 2).
Nghiên cứu trị liệu tâm lý ở thời điểm hiện tại khẳng định những gì đã được nêu lên bởi các nhà trị liệu và nhà nghiên cứu trường phái thân chủ trọng tâm từ 50 năm về trước và vẫn được sử dụng cho đến ngày nay – rằng chất lượng mối quan hệ trị liệu được xây dựng giữa nhà trị liệu và thân chủ (đặc trưng bởi sự thấu cảm, quan tâm tích cực vô điều kiện, và sự chân thật) chính là nền tảng cho những kết quả tích cực trong trị liệu, thay vì bất cứ các kỹ thuật cụ thể nào hay trình độ chuyên môn của nhà trị liệu (Hubble, Duncan and Miller, 1999).
TÁI ĐỊNH HÌNH LIỆU PHÁP GIA ĐÌNH VÀ CẶP ĐÔI THÂN CHỦ TRỌNG TÂM
Dưới đây là các hướng dẫn về cách bắt đầu tiếp cận và thực hiện liệu pháp gia đình và cặp đôi thân chủ trọng tâm, dựa trên tiến trình phát triển lịch sử được nhắc đến trong bài báo này cũng như 15 năm kinh nghiệm của tác giả khi làm việc với các cặp đôi và gia đình.
1. Điều kiện tiên quyết để thực hành trị liệu phi điều hướng với các cặp đôi và gia đình chính là bạn phải thấm nhuần một niềm tin mãnh liệt rằng, với vai trò là một nhà trị liệu, bạn sẽ không biết được những gì là tốt nhất đối với các cặp đôi và gia đình. Bạn không phải là một chuyên gia về những vấn đề cụ thể của họ, mặc dù bạn có thể có kinh nghiệm làm việc với những người khác cũng gặp phải vấn đề tương tự như họ; và bạn không nắm giữ chìa khoá thần kỳ để tháo gỡ hết được các vấn đề của họ, kể cả bạn có thể có những ý nghĩ hoặc quan điểm nào đó có thể giúp họ trong một tình huống cụ thể nếu được yêu cầu. Đồng thời, điều quan trọng là bạn cần phải toát ra được sự tự tin vào bản thân rằng bạn có thể đưa ra điều gì đó hữu ích, như một môi trường giúp các gia đình và cặp đôi có thể tự xác định các vấn để của họ, tìm ra các giải pháp và phát triển theo hướng quan trọng đối với họ. Đừng tỏ ra thiếu quyết đoán khi giải thích điều này cho các thân chủ của bạn, đặc biệt là khi họ đang lo ngại rằng bạn chẳng khác nào đang tự nhận rằng bạn không phải là một chuyên gia. Đã có rất nhiều trường hợp các nhà trị liệu thân chủ trọng tâm lại tỏ ra có lỗi về những gì họ có thể cung cấp và điều này không nên xảy ra. Chúng ta đã đạt được những thành quả to lớn với các cặp đôi và gia đình bằng cách sử dụng phương pháp phi điều hướng và điều này cần được ghi nhận mà không cần phải phô trương về nó.
2. Một khi cặp đôi và gia đình đã đến văn phòng của bạn, bạn có thể đưa ra một số hướng dẫn về quy định văn phòng, thời lượng của phiên trị liệu, phí trị liệu, và nhìn chung là cách mà bạn làm việc. Đã có nhiều gia đình đi trị liệu nhưng lại không biết chắc mình mong đợi những gì, và thường thì, họ kỳ vọng nhà trị liệu kiểm soát quá trình trị liệu. Bạn cần phải loại bỏ đi sự mơ hồ trên bằng việc nói rõ rằng bạn quan tâm đến việc lắng nghe góc nhìn của tất cả mọi người về lý do họ đến để trị liệu. Hãy cho các gia đình biết rằng bạn tin tưởng vào sự sáng suốt của họ như kim chỉ nam cho cách mà tiến trình trị liệu nên diễn ra. Một khi cặp đôi hoặc gia đình biết được rằng bạn quan tâm lắng nghe các suy nghĩ riêng của họ, các phiên trị liệu thường sẽ tiếp diễn một cách trôi chảy từ đó. Khi làm việc với gia đình, ta nên đặt câu hỏi cho các bậc phụ huynh trước khi bắt đầu rằng liệu họ có thể cho phép con em mình thoải mái chia sẻ tâm tư mà không lo sợ bị trừng phạt khi các bé nói đến những chuyện gây tranh cãi hay không. Điều này sẽ hỗ trợ việc xây dựng nên bầu không khí cởi mở và an toàn cho các trẻ thường cảm thấy bất lực trong gia đình. Trái lại, tôi nhận thấy rằng sẽ rất hữu ích nếu ta nhường lời cho phụ huynh trong phiên đầu tiên, như là một cách để tôn trọng họ. Thế nên, sau đôi lời giới thiệu ban đầu, tôi thường nói những câu như, ‘Cô Smith, cô có liên lạc với tôi và nói cho tôi biết là cô đang gặp phải một chút khó khăn với bé John là đứa con trai út của cô. Liệu cô có muốn bắt đầu bằng việc kể thêm cho tôi nghe về những nỗi bận tâm của cô không?’
3. Từ góc nhìn này, việc thấu cảm cũng sẽ giống như trong trị liệu cá nhân, nhưng sẽ có nhiều khung tham chiếu mà ta cần phải chú ý đến cùng lúc trong trị liệu cặp đôi và gia đình. Điều này sẽ gây ra sự khó khăn cho các nhà trị liệu nếu họ chưa từng làm việc với cặp đôi hay gia đình từ trước. Hãy ghi nhớ rằng bạn sẽ không thể đồng thời chú tâm vào tất cả mọi người hay mọi thứ. Bạn nên cho phép bản thân là một người bình thường và tập trung vào điều có vẻ cấp thiết nhất tại bất kỳ thời điểm nào. Chẳng hạn, khi cô Smith nêu ra các nỗi lo của mình, hãy chắc rằng bạn có thể hiểu được chính xác các nỗi lo đó. Việc này có thể trở nên phức tạp khi một thành viên khác trong gia đình cắt ngang cô Smith bằng lời nói hoặc bằng cách biểu hiện các phản ứng phi ngôn ngữ.
Khi nói đến việc cắt lời nói trên, tôi thường có xu hướng cho phép hành vi này xảy ra nhiều hơn trong thời gian đầu của việc trị liệu, vì tôi muốn nắm bắt được những sự việc gì đang diễn ra trong một bối cảnh rộng hơn của cặp đôi/gia đình. Đó là, họ đang có quan hệ với nhau ra sao, và họ có những phản ứng thế nào? Những khoảnh khắc ngắt lời tự phát trên có thể hỗ trợ đáng kể cho việc hiểu rõ được gia đình. Tuy nhiên, điều này cũng sẽ gây trở ngại khiến bạn không thể hoàn toàn chú tâm vào từng thành viên trong gia đình và bạn có thể sẽ cần phải kiểm soát nó. Khi việc cắt ngang lời nói tiếp diễn, bạn có thể nói với bé John út của gia đình rằng, ‘Bác biết là cháu có rất nhiều phản ứng với mẹ cháu và bác muốn hiểu được điều đó, nhưng trước tiên, cháu hãy để bác hiểu rõ được những mối lo ngại của mẹ cháu đã.’ Việc này sẽ thể hiện được sự tôn trọng đối với cả hai mẹ con và giúp cho tất cả các thành viên hiểu được rằng bạn muốn thấu hiểu được mọi góc nhìn và rằng mọi người đều sẽ có cơ hội để chia sẻ. Mặc dù đã rất nỗ lực để kiểm soát, các phản ứng tự phát từ các thành viên gia đình đôi khi sẽ mạnh đến mức bạn sẽ phải chú ý đến người ngắt lời trong một khoảnh khắc, và đồng thời vẫn phải nhớ rằng bạn cần quay trở lại với người mà bạn đang đối thoại dở dang. Bạn cũng cần phải để tâm đến các phản ứng phi ngôn ngữ. Do các phản ứng này không dùng đến lời nói, bạn sẽ dành thời gian để phản hồi và thấu hiểu người đang nói trước rồi sau đó mới nói chuyện với người biểu hiện hành vi phi ngôn ngữ. Bạn có thể nói là, ‘John này, bác có để ý thấy là cháu có phản ứng rất mạnh khi mẹ cháu nói chuyện, vậy cháu có muốn chia sẻ cảm giác của cháu không?’ Việc để tâm đến các hành vi phi ngôn ngữ chính là một hình thức thấu cảm mạnh mẽ, đặc biệt là đối với những thân chủ có sự miễn cưỡng trong việc nói chuyện và muốn được thấu hiểu theo những hướng tinh tế hơn. Từ đây, một số gia đình sẽ khá tự nhiên trong việc điều hướng phiên trị liệu, phản ứng với nhau một cách tự phát, bộc lộ các vấn đề và đưa ra các gợi ý. Như vậy, công việc trị của nhà trị liệu sẽ trở nên dễ dàng hơn. Bạn cần phải để tâm đến nhiều khung tham chiếu cá nhân khác nhau và đưa ra các phản ứng thấu hiểu khi cần, đồng thời duy trì các điều kiện trị liệu cần thiết khác. Đôi lúc, bạn có thể sẽ cần phải xây dựng trật tự bằng việc tạo ra các không gian để mọi người nói chuyện mà không bị cắt ngang (chẳng hạn, ‘Mary này, bác biết là cháu rất muốn nói chuyện. Một lát nữa là bác sẽ nói chuyện với cháu nhé.’) hoặc bạn có thể sẽ cần tạo cơ hội nói chuyện cho các thành viên trầm tính hơn (chẳng hạn, ‘Tom này, bác với gia đình vẫn chưa được nghe cháu nói gì hết và bác không biết là liệu cháu có muốn chia sẻ về vấn đề này không).
Khi các gia đình trở nên bị động và dè dặt hơn trong việc đối thoại, đôi lúc tôi sẽ điều hướng phiên trị liệu theo một hướng khác đi. Việc cho phép sự im lặng diễn ra rất quan trọng, đặc biệt là sau khi bạn đã trình bày một số hướng dẫn chung về cách thức làm việc của bạn, từ đó loại bỏ đi những mơ hồ vốn có thể là căn nguyên cho thái độ dè dặt của họ. Bạn cũng có thể nói về sự miễn cưỡng của họ khi nói chuyện và thường thì, một thành viên nào đó sẽ phá vỡ sự im lặng, đặc biệt là khi bạn cho thấy bạn đang chú tâm tới với sự lo âu đang hiện diện. Thêm vào đó, do bạn có được lợi ích từ sự hiện diện của những người có thể là chủ đề của cuộc bàn luận, bạn có thể tận dụng cái mà Thayer gọi là ‘chuyển dịch góc nhìn’ khi các thành viên gia đình tỏ ra quá khách sáo hoặc không phản ứng tự nhiên. Chẳng hạn, ta có thể nói là ‘John này, mẹ cháu có nói là mẹ thấy rất lo lắng cho cháu vì cháu hay vướng vào các vụ ẩu đả trong thời gian gần đây – liệu cháu có muốn nói chuyện với mẹ cháu không?’ Hoặc là, ‘John này, mẹ cháu cảm thấy là cháu đang ý định làm tổn thương mẹ cháu, cháu thấy thế nào về chuyện này?’ Nói như vậy sẽ khuyến khích tiếng nói của gia đình và các thành viên hoàn toàn có thể lựa chọn không chia sẻ điều gì. Một số người ban đầu sẽ cần phải có lời gợi mở mới có thể lên tiếng, và họ sẽ sớm nhận thấy rằng họ hoàn toàn tự do chia sẻ nếu muốn về sau.
4. Sự quan tâm tích cực vô điều kiện hiện cho đến nay vẫn là một điều kiện về mặt thái độ tối quan trọng để làm việc với gia đình và cặp đôi một cách hiệu quả. Việc truyền đạt lại một thái độ nhiệt thành và tôn trọng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với gia đình và cặp đôi, giúp họ cảm thấy đủ an tâm để bày tỏ những sự việc đang xảy ra với họ. Chuyện này đôi lúc có thể diễn ra một cách dễ dàng nhưng đôi lúc cũng có thể sẽ rất khó khăn, đặc biệt là khi bạn không nhất thiết phải có thái độ nhiệt thành và tôn trọng đối với những người tham gia phiên trị liệu. Như Rogers đã nêu, sự quan tâm tích cực vô điều kiện là một thái độ mà ta luôn nỗ lực hướng đến, nhưng thường lại không đạt được một cách trọn vẹn. Chẳng hạn, khi làm việc với các cặp đôi gặp phải vấn đề bạo lực gia đình, tôi đã bị dày vò bởi những cảm giác ghê tởm hay khó ưa đối một số người. Tuy nhiên, nếu tôi có thể thừa nhận những cảm giác đó từ bên trong bản thân tôi (tính chân thật), thì thường tôi sẽ có khả năng tạm thời gác lại những cảm xúc đó và tập trung vào cặp đôi/gia đình. Khi làm như vậy, tôi thường khám phá ra được rằng một số phẩm chất đáng quý ở thân chủ mà tôi từng phán xét, và điều này phần nào giúp tôi cân bằng lại được các phản ứng tiêu cực hơn của bản thân.
5. Sự chân thật/hòa hợp (trong ngoài) là một điều kiện đã được nhắc đến trong chương này, nhưng tôi sẽ đi sâu giải thích về nó hơn nữa. Sự chân thật là một điều kiện bén rễ từ phía nhà trị liệu – đó là nhận thức được các phản ứng cá nhân và những cảm xúc trong từng khoảnh khắc trong trị liệu mà ta không nhất thiết phải bộc lộ ra trước thân chủ. Điều kiện trên có nghĩa là bạn không nên che giấu bản thân mình hoặc lừa dối họ về việc bạn là ai dưới tư cách một con người. Bạn không nhất thiết phải chia sẻ về cảm xúc hay quá khứ của mình, mà chỉ đơn thuần là ý thức và thừa nhận những cảm xúc nội tâm và có thể nói ra với họ khi được yêu cầu hoặc nếu buộc phải làm như vậy. Khi thỏa được điều kiện trên, bạn sẽ thấy dễ dàng hơn rất nhiều trong việc kiểm soát các phản ứng cá nhân với vai trò là nhà trị liệu. Thêm vào đó, trong trường hợp tôi cảm thấy mình có ý muốn khoác lên mình chiếc mặt nạ chuyên nghiệp, tôi sẽ cố gắng nhìn sâu vào nội tâm để xem điều gì đang thực sự xảy ra với mình trong khoảnh khắc đó. Thông thường, đó là một dạng của sợ hãi hoặc lo âu liên quan đến thân chủ mà tôi cần phải tìm hiểu thêm khi tham vấn các đồng nghiệp sau đó.
Như đã bàn luận ở trong chương, ta sẽ gặp phải những khoảnh khắc khi các thân chủ của bạn đòi hỏi nhiều thứ hơn từ bạn. Họ có thể đặt ra cho bạn các câu hỏi trực tiếp về cách thức dạy dỗ con cái, cải thiện hôn nhân, hoà giải các xung đột, gia tăng đam mê, cách dàn xếp thoả hiệp trong tất cả các vấn đề khác nhau. Khi bạn cảm thấy rằng dù cho bản thân đang có một ý kiến rất mạnh mẽ, bạn vẫn có thể nói ra ý kiến đó, miễn là nó được đưa ra dựa trên tinh thần của một người không phải là chuyên gia. Ý kiến của bạn có thể bắt nguồn từ trải nghiệm cá nhân, kinh nghiệm làm việc với các cặp đôi/gia đình hoặc các ấn phẩm mà bạn đã đọc được, nhưng đây không nhất thiết phải là những gì hữu ích cho họ, nó chỉ đơn thuần là ý kiến của bạn mà thôi.
Tình huống phức tạp hơn là khi thân chủ không hề yêu cầu được biết đến quan điểm của bạn nhưng dù vậy bạn vẫn có điều gì đó thôi thúc bạn đưa ra ý kiến hay gợi ý của mình. Để làm được điều này từ góc nhìn phi điều hướng, nhà trị liệu cần phải thực hiện nó với thái độ phi điều hướng từ sâu bên trong. Như vậy, bạn sẽ không thể có lợi ích riêng trong các sự lựa chọn mà các gia đình hay cặp đôi đưa ra – bạn phải thực sự tin vào những gì mà thân chủ thấy là phù hợp nhất đối với họ. Với thái độ này, việc chia sẻ các phản ứng tự nhiên, phi hệ thống có thể sẽ trở thành một công cụ trị liệu rất hiệu quả.
Là người đã từng làm việc nhiều với những thân chủ bị lạm dụng tình dục lúc còn nhỏ, và những thân chủ đồng tính, bản thân tôi thường có những phản ứng mà tôi mong muốn được chia sẻ khi làm việc với các cặp đôi/gia đình gặp phải những vấn đề tương tự. Chẳng hạn, một người trong mối quan hệ yêu đương có thể sẽ nhắc đến hay ám chỉ về việc mình từng bị xâm hại tình dục thời còn nhỏ mà không muốn phơi bày tất cả. Nếu như cặp đôi này đang gặp phải các vấn đề về mặt tình dục mà họ không thể hiểu được, trong khi cả hai người đều không liên hệ nó với sang chấn tình dục, khả năng cao là tôi sẽ đặt câu hỏi về điều đó và nói ra một số cảm nhận của mình vì sao nó có liên quan. Trong một tình huống khác, tôi có làm việc với một cặp đôi đồng tính nam cảm thấy rằng họ thường xuyên nổi nóng và tức giận với nhau mà không có lý do rõ ràng. Trong trường hợp này, cặp đôi có thể nhờ đến bạn để được tư vấn.
Tại thời điểm này, tôi có thể sẽ đặt ra các câu hỏi về lịch sử yêu đương của cả hai người họ, tức là liệu họ đã công khai xu hướng tính dục của mình cho cả hai bên gia đình hay chưa, hay liệu họ đang phải đối mặt với sự kì thị hay bất công có liên quan ở nơi làm việc, chỗ ở hay cộng đồng mà họ sinh sống hay không. Có thể tôi cũng cảm nhận rằng một hoặc cả hai mang đều mắc hội chứng tự kì thị đồng tính, dẫn đến cảm giác xấu hổ, tội lỗi và bực tức, rồi trút lên nhau. Đây đều là những vấn đề có thể thăm dò một cách thận trọng, hoặc khi được yêu cầu ý kiến, hoặc khi bạn cảm giác có vấn đề nào đó đang tồn tại mà vẫn chưa được xác định rõ ràng.
Điều quan trọng ở đây chính là tránh không tuân theo một công thức trong những tình huống trên hay bất cứ những tình huống nào khác mà khi đó bạn có một linh cảm hay phản ứng mãnh liệt. Hãy thấm nhuần thái độ phi điều hướng và duy trì niềm tin của chính bản thân bạn về khuynh hướng hiện thực hóa. Làm như vậy, các lời khuyên, câu hỏi và gợi ý mà bạn đưa ra khả năng cao sẽ được ứng dụng một cách đúng đắn và có thể sẽ rất hữu ích đối với các thân chủ của bạn. Đối với những ai không có đủ tự tin trong việc tin vào khuynh hướng hiện thực hóa và thái độ phi điều hướng, hãy hạn chế các rủi ro trong trị liệu cho đến khi bạn thấm nhuần triết lý này hơn. Bạn vẫn có thể đạt được sự hiệu quả trong công việc ngay cả khi không có kinh nghiệm tích luỹ để thúc đẩy việc vận dụng thái độ phi chỉ dẫn ở mức độ cao hơn trong trị liệu cặp đôi/gia đình.
6. Cuối cùng, hãy để cho các cặp đôi/gia đình tự quyết định xem hướng đi cuối cùng nào tốt nhất cho họ. Theo thông lệ, giai đoạn này sẽ đến một khi vấn đề đang hiện diện được giải quyết hay ta thấy đã thay đổi đủ nhiều. Với vai trò là người trị liệu, bạn có thể đặt ra câu hỏi về việc liệu một cặp đôi/gia đình đã giải quyết được tình trạng của họ hay chưa nếu như bạn cảm thấy là họ có khả năng đó. Tuy nhiên, sẽ có nhiều cặp đôi/gia đình mong muốn được tiếp tục tham gia trị liệu dưới tần suất thấp hơn để duy trì sự ổn định của họ. Đây là một việc đáng khuyến khích nếu như họ cảm thấy dễ bị tổn thương trước nguy cơ có thể mất đi thành quả đạt được hay họ có xu hướng dễ gặp khủng khoảng và cần được tiếp tục cải thiện các kỹ năng giao tiếp và giải quyết vấn đề.
(*): Chương này được viết dựa rất nhiều vào luận án chưa được công bố của tác giả: McPherrin JK (1995) ‘Trị liệu Cặp đôi và Gia đình Thân chủ Trọng tâm: Khi làm dụng tình dục là một vấn đề’. Luận án chưa được công bố đã được nộp cho Illinois School of Professional Psychology để đáp ứng một phần các yêu cầu để lấy bằng Tiến sĩ Tâm lý học.
Quang Thái dịch, ThS. Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính
(bài viết là một chương trong quyển sách “Embracing Non-Directivity” của tác giả Brian E. Levitt)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderson WJ (1989) Family therapy in the client-centered tradition: A legacy in the narrative
mode. Person-Centered Review, 4(3), 295-307.
Bergin AE (1967) Some implications of psychotherapy research for therapeutic practice.
International Journal of Psychiatry, 3, 136-50.
Bozarth JD & Brodley BT (1991) Actualization: A functional concept in client-centered therapy.
In A Jones & R Crandall (Eds) Handbook of self-actualization. Special issue of The Journal of Social Behavior and Personality, 6(5), 45-59.
Bozarth JD & Shanks A (1989) Person-centered family therapy with couples. Person-Centered
Review, 4(3), 280-94.
Brodley BT (1993) Response to Patterson’s ‘Winds of change for client-centered counseling.
Journal of Humanistic Education and Development, 31(3), 139-43.
Brodley B & Brody A (1994) Can one use techniques and still be client-centered? Paper presented
at the International Client-Centered Conference in Vienna, Austria.
Gaylin NL (1989) The necesary and sufficient conditions for change: Individual versus family therapy. Person-Centered Review, 4(3), 263-79. Reprinted in NL Gaylin (2001) Family, Self and Psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 10G-14.
Gaylin NL (1990) Family-centered therapy. In G Lietaer, J Rombauts & R Van Balen (Eds) Client-Centered and Experiential Psychotherapy in the Nineties. Leuven: Leuven University Press, pp. 813-28. Reprinted as ‘Family Therapy Process in NL Gaylin (2001) Family, Self and Psychotherapy. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 115-29.
Gordon T (1972) Parent-Effectiveness Training. New York: Wyden.
Guerney BG (1977) Relationship Enhancement. San Francisco: Jossey-Bass.
Hubble M, Duncan B & Miller S (1999) The Heart and Soul of Change: What works in therapy.
Washington, DC: American Psychological Association.
Levant RF (1978) Family therapy: A client-centered perspective. Journal of Marriage and Family
Counseling, 4(b), 35-42.
Levant RF (1982) Client-centered family therapy. American Journal of Family Therapy, 10(2),
72-5.
Levant RF (1984) From person to system: Two perspectives. In RF Levant & JM Shlien (Eds) Client-Centered Therapy and the Person-Centered Approach: New directions in theory, research, and practice. New York: Praeger, pp. 243-60.
O’Leary CJ (1989) The person-centered approach and family therapy: A dialogue between two traditions. Person-Centered Review, 43), 308-23. Reprinted in DJ Cain (Ed) (2002) Classics in the Person-Centered Approach. Ross-on-Wye: PCCS Books, pp. 191-9.
Raskin NJ (1988) Responses to person-centered vs. client-centered. Renaissance, 5(3-4), 2-3.
Raskin NJ & van der Veen F (1970) Client-centered family therapy: Some clinical and research perspectives. In JT Hart & TM Tomlinson (Eds) New Directions in Client-Centered Therapy.
Boston: Houghton Mifflin, pp. 387-406.
Rogers CR (1957) The necessary and sufficient conditions of therapeutic personality change.
Journal of Consulting Psychology, 21, 95-103.
Rogers CR (1959) A theory of therapy, personality, and interpersonal relationships as developed in the client-centered framework. In S Koch (Ed) Psychology: A study of science: Formulations of the person and the social context. New York: McGraw-Hill, pp. 184-256.
Rogers CR (1980) A Way of Being. Boston: Houghton Mifflin.
Rombauts ] & Devriendt M (1990) Conjoint couple therapy in client-centered practice. In G Lietaer, J Rombauts & R Van Balen (Eds) Client-Centered and Experiential Psychotherapy in the Nineties. Leuven: Leuven University Press, pp. 847-63.
Rosenberg MB (1976) From Now On. St. Louis, MO: Community Psychological Consultants.
Thayer L (1982) A person-centered approach to family therapy. In A Horne & M Olsen (Eds)
Family Counseling and Therapy. Itasca, IL: FE Peacock, pp. 175-213.
Topping CJ (1993) An equal prizing: Couple therapy from a client-centered perspective. An unpublished dissertation submitted to the University of Georgia in partial fulfillment of the requirements for the degree of doctor of philosophy.
Truax CB & Carkhuff RR (1967) Toward Effective Counseling and Psychotherapy: Training and
practice. Chicago: Aldine.
Truax CB & Mitchell KM (1971) Research on certain therapist interpersonal skills in relation to process and outcome. In AE Bergin & S Garfield (Eds) Handbook of Psychotherapy and Behavior Change. New York: Wiley, pp. 299-344.
Warner MS (1986) On coaching communication: Trust in the family system. Unpublished Draft.
Warner MS (1993) Levels of intrusiveness: A framework for considering the integration and
differentiation of styles of psychotherapy. Unpublished Draft.