SO SÁNH BA LIỆU PHÁP CHỦ ĐẠO DÀNH CHO CẶP ĐÔI: IRT, EFT VÀ LIỆU PHÁP GOTTMAN

Tác giả: Gabrielle Nabim, Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình được cấp phép, Thạc sĩ chuyên ngành Công tác Xã hội, Cử nhân Xã hội học được cấp phép

Hiện nay chúng ta có vô vàn các mô hình trị liệu dành cho các cặp đôi, mỗi mô hình được phát triển dựa trên một tập hợp các giả định mang tính triết học góp phần định hình cách chúng được áp dụng trong lĩnh vực lâm sàng. Các nhà trị liệu thường không khỏi thấy choáng ngợp trước sự đa dạng trong các liệu pháp mà họ có thể tận dụng như một nền tảng để làm việc với các cặp đôi, và có lẽ họ cũng nhận ra chính bản thân họ đang tùy ý lựa chọn một liệu pháp phổ biến và tham gia các khóa đào tạo về nó mà không hoàn toàn nắm bắt được sự khác biệt của nó so với các liệu pháp chủ đạo khác. Bởi vì các phương thức trên có thể khác xa nhau về mặt nền tảng lý thuyết, đặc tính, và các kỹ thuật, ta nên tiến hành một vài nghiên cứu so sánh trước khi đầu tư mọi thứ cho một chứng chỉ, thứ có thể là một quá trình khá tốn kém đòi hỏi nhiều cấp độ năng lực khác nhau. Chẳng hạn, chúng ta không nên chọn một phương thức dựa trên thực nghiệm để làm việc với các cặp đôi rồi sau đó mới nhận ra rằng liệu pháp dựa trên hành vi lại phù hợp hơn với các quan điểm và triết lý của bản thân. Với mong muốn đơn giản hóa quá trình lựa chọn của các nhà trị liệu mới vào nghề, trong bài viết này, tôi sẽ bàn về ba liệu pháp được ứng dụng rộng rãi ngày nay bởi các chuyên gia về sức khỏe tâm lý: Liệu pháp Mối quan hệ Imago (Imago Relationship Therapy – IRT), Liệu pháp Cặp đôi theo phương pháp Gottman (Gottman Method Couples Therapy), và Liệu pháp Cặp đôi Tập trung cảm xúc (Emotionally Focused Couples Therapy – EFCT hoặc EFT). Các liệu pháp này tuy đều có các nền móng khác nhau, nhưng cũng có một số điểm tương đồng bất ngờ. Cũng giống như khung cảnh một cây táo, cây cam và cây anh đào đứng kế nhau trong một khu vườn, khi mỗi cây đều có sự khác biệt về kiểu dáng và hương vị đối với những người thưởng thức quả của chúng, ta vẫn có thể sẽ thấy được những không gian, nơi mà các cành của mỗi cây len lỏi vào nhau. Những điểm giao nhau trên có thể được ví như các mục tiêu bao quát của việc trị liệu cho các cặp đôi: củng cố sự gắn kết, thân mật, và giao tiếp.

Liệu pháp Mối quan hệ Imago (IRT) chủ yếu là một phương pháp tâm động học trong trị liệu tình yêu. Harville Hendrix, người đã phát triển ra liệu pháp trên cùng với vợ là bà Helen LaKelly trong những năm 1970 và 1980, đã được trao bằng tiến sĩ trong lĩnh vực Tâm Lý và Thần Học tại Đại học Chicago và đã được đào tạo theo truyền thống phân tâm học. Các khái niệm về tâm động học xuất hiện tràn ngập trong các học thuyết của ông về các mối quan hệ và hiện đang là yếu tố quan trọng nhất trong việc định hình nên mô hình IRT. Từ imago thực chất là thuật ngữ mà Hendrix vay mượn từ nhà tâm thần học Carl Jung, người đã đưa ra định nghĩa cho thuật ngữ trên trong quyển Tuyển tập các tác phẩm (Collected Works) của ông: “Sự biểu tượng hoá bên trong về giới tính đối lập”. Tuy nhiên, nếu ta cho rằng IRT chỉ là sản phẩm của mỗi hệ thống phân tâm học thôi thì có nghĩa là ta đã phủ nhận đi việc nó đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các truyền thống khác như thế nào. Trước khi ông Hendrix trở thành một nhà tâm lý học, ông đã từng đảm nhiệm công việc của một giáo sĩ trong nhà thờ Cơ Đốc giáo, và rõ ràng truyền thống Kitô giáo vừa là nguồn cảm hứng, vừa là phương tiện ẩn dụ cho trong các công trình của ông Hendrix, cũng giống như khi ông bàn về sứ mệnh của mỗi người trong việc đi tìm một quan hệ yêu đương thân thiết mà ông gọi là “con đường tâm linh”. Hendrix đã tiếp nhận sự ảnh hưởng từ các nhà tư tưởng về tinh thần như Martin Buber, và các nhà tâm lý học Carl Jung, Kurt Lewin, và Frank Ernst. Các nghiên cứu đột phá trong lĩnh vực khoa học hành vi cũng đã có sự ảnh hưởng đến học thuyết tương đối của ông. Để tóm lược chính xác về IRT, nó là sự kết hợp giữa nhiều kiến thức dựa trên lý thuyết từ nhiều hệ thống tâm lý và tinh thần học của phương Tây và gói gọn chúng lại thành một học thuyết tổng quát về các mối quan hệ tình cảm quan trọng nhất.

Mặt khác, phương pháp trị liệu tình yêu của nhà tâm lý học John Gottman lại có nền tảng đơn thuần là các nghiên cứu cơ bản. Gottman đã được trao bằng thạc sĩ ngành toán học tại đại học MIT và sau đó tiếp tục theo đuổi và có bằng tiến sĩ trong ngành Tâm lý học Lâm sàng tại Đại học Wisconsin. Trong những năm đầu ông đảm nhiệm công việc của một nhà tâm lý học, mối quan hệ giữa các cặp đôi chưa từng được nghiên cứu theo bất kỳ một phương pháp khoa học nghiêm ngặt nào. Cộng tác với đồng nghiệp của mình là Robert Levenson, ông Gottman đã bắt tay vào việc ghi âm lại các cuộc nói chuyện giữa các cặp đôi, phân tích các đoạn băng ghi âm để tìm ra các đặc điểm tương tác giúp ta dự đoán được sự thành công của các mối quan hệ lâu dài. Vào năm 1986, ông đã chuyển đến Đại học Washington tại thành phố Seattle và tiếp tục làm việc cùng với vợ của mình là Julie Gottman để củng cố hiểu biết của ông về bản chất của các mối quan hệ đối tác giữa các cặp đôi. Trong suốt hơn 30 năm trở lại đây, ông Gottman đã tiến hành ít nhất bảy cuộc nghiên cứu phi can thiệp với hơn 700 cặp đôi khác giới và đồng giới. Do các cuộc nghiên trên được tiến hành trong thời gian lâu dài, ông Gottman đã có thể tìm ra được các đặc điểm giúp ta dự đoán được sự lâu bền và sự hài lòng trong các mối quan hệ kéo dài suốt cuộc đời, đi từ giai đoạn kết hôn cho đến những sự chuyển biến lớn trong cuộc đời như thời làm cha mẹ, thời trung niên, và thời nghỉ hưu. Phần nhiều các phát hiện quan trọng của ông Gottman về cách thức mà các cặp đôi thỏa hiệp với nhau khi gặp mâu thuẫn đều xuất phát từ phòng thí nghiệm thiết kế đặc biệt trong căn hộ, được gọi là “Phòng thí nghiệm Tình yêu”, nơi mà những tương tác giữa các cặp đôi sẽ được ghi lại vào băng hình và các phản ứng sinh lý của họ sẽ được theo dõi. Ông Gottman đã nhận thấy rằng, giữa nhiều yếu tố khác nhau, sự bất ổn trong các mối quan hệ có mối liên hệ mật thiết với sự leo thang trong các cảm xúc tiêu cực hay các mâu thuẫn tiêu cực giữa hai người. Sự leo thang này có thể bắt nguồn từ sự hiện diện của bốn đặc điểm tương tác mà ông Gottman gọi ví von là “Tứ Kỵ Sĩ Khải Huyền”, bao gồm: phê phán, né tránh, chống đối, và khép lòng. Khi các “kỵ sĩ” trên bắt đầu hiện diện trong một mối quan hệ, các cảm xúc tích cực sẽ có sự suy giảm. Ông Gottman đã chỉ ra rằng cảm xúc tiêu cực sẽ có mặt trong tất cả các mối quan hệ, nhưng trong các quan hệ bền vững và lành mạnh thì yếu tố trên sẽ được cân bằng thông qua cảm xúc tích cực và nỗ lực hàn gắn, mà ta có thể xem là nỗ lực của các cặp đôi trong việc giảm leo thang xung đột. Do vậy, liệu pháp của ông Gottman sẽ chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ các cặp đôi điều tiết các cảm xúc. Ông Gottman đã đặt ra các nguyên tắc để giúp các cặp đôi thực hành khi họ có mong muốn được “ấm cửa yên nhà”. Các nguyên tắc trên sẽ bao gồm việc bộc lộ tình cảm và sự tôn trọng trong những khoảnh khắc nhỏ trong đời thường, hồi đáp lại các nhu cầu gắn kết cảm xúc của mỗi người, và xây dựng nên một hệ thống ý nghĩa chung thông qua việc đặt ra các nghi thức kết nối mang tính trang trọng và thường nhật.

Trong khi liệu pháp Gottman bắt nguồn từ các nghiên cứu học thuật, IRT có nền tảng nền tảng lý thuyết và phương pháp luận của phân tâm học, thì EFT lại là sự kết hợp mang tính hậu hiện đại giữa phương pháp hệ thống tương tác/gia đình và liệu pháp trải nghiệm/Gestalt. Quan trọng hơn hết, sự kết tinh độc đáo về lý thuyết trong liệu pháp này chính là nhờ vào lý thuyết gắn bó. Tiến sĩ Susan Johnson, người đã phát triển nên liệu pháp này qua quá trình làm việc với các cặp đôi tại Đại học British Columbia trong đầu những năm 1980, đã nhận thấy rằng ta có thể nắm bắt được các sự vận động trong các mối hệ yêu đương ở người trưởng thành khi nhìn nhận và giải thích chúng dưới lăng kính các nguyên tắc về sự gắn bó. Những người bạn đời sẽ được xem như là các chủ thể gắn bó chính, trong khi những sự đe dọa đến mối liên kết giữa họ (tức là sự phản bội về tình cảm hoặc thể xác) sẽ có khả năng gây ra sự phiền muộn nghiệm trọng trong quan hệ. Các biến cố trên, hay còn gọi là “những tổn thương trong gắn bó”, có thể được xem như là các sang chấn trong vòng đời của một mối quan hệ. Cảm xúc chính là khái niệm trọng tâm trong EFT vì nó được xem như là một nguồn cung cấp thông tin về các nhu cầu, mục tiêu, và động lực. Một nhà trị liệu đi theo EFT sẽ hỗ trợ các thân chủ của họ trong việc giải quyết và bộc lộ ra các cảm xúc then chốt, và đây sẽ là một quá trình có liên quan đến việc phân tích các cảm xúc hồi đáp mang tính tiêu cực như nóng giận và liên kết chúng các cảm xúc ít được quan tâm đến như sợ hãi và vô vọng. EFT là một liệu pháp độc đáo trong việc tránh sự bệnh lý hóa các nhu cầu phụ thuộc ở người lớn, và trên tinh thần đó, một con người sẽ không bao giờ được xem là quá lệ thuộc hoặc quá tự lập. Sự gần gũi với một chủ thể gắn bó là người lớn (bạn đời) sẽ là yếu tố quan trọng đối với sức khỏe tâm lý, và cùng với đó, sự hạnh phúc và tự lực sẽ sự liên kết mật thiết với nhau về mức độ an toàn mà một cá nhân có thể cảm nhận được trong mối quan hệ gắn bó chủ đạo của họ.

Các ví dụ điển hình

Để minh họa cho ba liệu pháp chủ đạo cho các cặp đôi, chúng ta hãy nhìn vào một mối quan hệ đang gặp nhiều trắc trở. Ông Ameen (54 tuổi) và bà Karen (48 tuổi) đã kết hôn với nhau được chín năm. Đối với cả hai người họ thì đây chính là cuộc hôn nhân lần thứ hai. Mối quan hệ của họ rất viên mãn cho đến khi người chị của ông Ameen, sinh sống ở vùng Trung Đông, đến thăm nhà trong một thời gian dài. Sự nhiệt tình và chu đáo của ông Ameen đối với người chị của mình, cùng với những bất đồng văn hóa giữa bà Karen và người chị chồng, đã tạo ra một vết rạn nứt trong tình cảm giữa ông Ameen và bà Karen. Theo nhận định của họ thì khoảng cách tình cảm giữa hai người đang ngày càng lớn dần, và đi cùng với đó là các cuộc cãi vã căng thẳng trước các vấn đề nhất định, chẳng hạn như việc ông Ameen nói chuyện với chị của mình bằng tiếng mẹ đẻ, khiến cho bà Karen cảm thấy như bị “ra rìa”. Theo như bà Karen, những thói quen vụn vặt ngày thường họ từng chia sẻ cùng nhau thì giờ đây đã không còn nữa và điều này khiến cho bà cảm thấy bị “bỏ rơi trong hôn nhân”. Về phần mình, ông Ameen cho rằng mình phải làm việc trong nhiều giờ và ông có nghĩa vụ phải dành nhiều thời gian nhất có thể cho người chị của mình, đặc biệt là khi chị đã phải lặn lội từ một nơi xa xôi để đến thăm người nhà, chưa kể ông cũng không thể biết được rằng liệu mình có còn dịp nào khác để được gặp lại chị mình hay không. Trong cả bài viết này, chúng ta sẽ lấy trường hợp của bà Karen và ông Ameen để minh họa cho phương hướng mà việc trị liệu có thể đi đến dưới cái nhìn tổng quát của ba liệu pháp nêu trên.

Hình thức/Kết cấu của Trị liệu

IRT, EFT, và liệu pháp Gottman đã được thiết kế để trở thành các phương pháp can thiệp tương đối có tính hệ thống và có giới hạn về mặt thời gian. Ngay cả IRT, với nền tảng là phân tâm học, cũng không bao giờ đặt ra một quá trình trị liệu dài lê thê và vô tận. Ông Hendrix đã đặt ra một khoảng thời gian tối thiểu là từ 10 đến 12 tuần cho một liệu trình IRT đầy đủ, bắt đầu từ việc các cặp đôi định nghĩa được “tầm nhìn về mối quan hệ” của họ. Việc này sẽ giúp họ suy nghĩ về kiểu mối quan hệ mà họ muốn có được, dời sự chú tâm của họ từ những thất vọng trong quá khứ sang một tương lai đầy hy vọng hơn. Chẳng hạn, bà Karen có thể mường tượng ra một mối quan hệ phản chiếu lại “những chuyện đã từng xảy ra, tựa cái thời mà cuộc sống chỉ có hai người”. Mối quan hệ này có thể bao gồm các thói quen như “dùng bữa cùng nhau trên hiên nhà vào mỗi sáng” và các lý tưởng không được xác định rõ ràng kiểu “gắn kết với nhau hơn”. Tầm nhìn về mối quan hệ của ông Ameen có thể có sự tương đồng với bà Karen, hoặc cũng có thể có sự khác biệt rất lớn. Dù là trường hợp nào đi chăng nữa, nhà trị liệu IRT sẽ hỗ trợ ông Ameen và bà Karen trong việc đưa ra được một tầm nhìn chung mà cả hai ông bà đồng thuận là có thể đáp ứng được mong muốn của họ. Tiếp theo đó, hai ông bà sẽ đặt ra một Thỏa thuận Cam kết mà họ phải cam đoan rằng sẽ không tách ra ở riêng hay ly hôn trước khi hoàn thành toàn bộ liệu trình. Tại thời điểm này, họ trải qua quá trình “hạn chế các lối thoát của họ”. Theo thuật ngữ IRT thì đây có nghĩa là việc cả hai bên đánh giá về các cách mà họ né tránh lẫn nhau và quyết định xem họ sẽ sẵn sàng từ bỏ các cách trốn tránh nào. Chẳng hạn, một trong các cách né tránh của ông Ameen là sau khi tan làm trở về nhà, ông thường bật tivi lên xem ngay lập tức thay vì nói chuyện phiếm với bà Karen. Nhà trị liệu IRT sẽ giúp ông Ameen tích cực đánh giá xem ông dốc tâm sức cho hoạt động này ra sao và liệu ông có sẵn sàng từ bỏ hoạt động trên để củng cố sự gắn kết của ông với bà Karen. Sau giai đoạn đầu tiên của trị liệu, bà Karen và ông Ameen sẽ trải qua 18 bài thực hành để hai ông bà nắm bắt được những vụn vỡ, những vết thương lòng cụ thể từ thuở nhỏ và các cách đối mặt với chúng; xây dựng nên các cảm giác an toàn và tin tưởng trong quan hệ; giải tỏa sự căng thẳng; đồng cảm với nhau hơn; và củng cố sự thân mật và xoa dịu lẫn nhau. Hầu hết các bài thực hành trong IRT đều được phát triển để trở thành các hoạt động có tính hợp tác, tuy nhiên, một số ít bài thực hành sẽ cần thân chủ phải tự nhìn nhận lại chính mình và mỗi thân chủ có thể phải thực hiện riêng lẻ. Ta cần lưu ý rằng mục đích thực sự của ông Hendrix là hỗ trợ các cặp đôi hiểu rõ được động lực về nguồi cội gia đình mà có thể có mối liên hệ với các đặc điểm tương tác trong mối quan hệ của họ. Sự chú trọng vào sự thấu hiểu tạo ra sự khác biệt lớn so với EFT và phương pháp Gottman, những liệu pháp chủ yếu mang tính “ngay tại đây và ngay bây giờ” và tập trung vào các trải nghiệm hiện tại để tạo ra sự tương tác an toàn về mặt cảm xúc. Tuy nhiên, dù có tính chất “hướng về sự thấu hiểu”, IRT cũng sẽ phần nào phụ thuộc vào phương pháp tiếp cận hành vi trên một góc độ nhất định, hướng dẫn các cặp đôi thể hiện tình cảm với nhau nhiều hơn để tạo luồng cảm xúc tích cực và thắp lại lửa cho mối quan hệ.

Bước đầu của phương pháp Gottman là đánh giá toàn bộ các thử thách mà một cặp đôi đang phải đối mặt, cũng như các điểm mạnh của riêng họ. Chẳng hạn, nếu như bà Karen và ông Ameen đi đến được quyết định gặp gỡ một nhà trị liệu được đào tạo về phương pháp Gottman, mỗi ông bà sẽ nói ra về những lý do thôi thúc bản thân đi trị liệu và sau đó sẽ trải qua một quá trình Thăm dò Lai lịch để tìm ra được thông tin về lai lịch và triết lý của mối quan hệ của họ cũng như mối quan hệ của cha mẹ họ. Nhà trị liệu sau đó có thể sẽ hướng dẫn bà Karen và ông Ameen điền vào một số bảng câu hỏi viết tay, chẳng hạn như bài kiểm tra Điều tiết Hôn nhân Locke-Wallace để xác định được các phạm vi cần được củng cố trong cuộc hôn nhân của họ. Họ cũng sẽ cùng nhau thảo luận về các mục đích của việc trị liệu. Việc trị liệu bằng phương pháp Gottman sẽ sử dụng phương pháp tiếp cận hai mũi nhọn để cặp đôi trên điều tiết nhằm giảm nhẹ các mâu thuẫn, đồng thời tăng cường các cảm xúc tích cực. Điều tiết giảm nhẹ có thể là việc xử lý các cảm xúc có liên quan đến việc cãi vã, hoặc “các biến cố”, giảm thiểu sự ảnh hưởng từ “tứ kỵ sĩ” thông qua việc tăng cường sự nhận thức của cặp đôi về các kiểu giao tiếp không phù hợp; tạo điều kiện cho việc thỏa hiệp về các vấn đề nan giải; áp dụng các kỹ thuật làm dịu sinh lý như thở sâu và thiền; và hạn chế yếu tố mà ông Gottman gọi là “những sự khởi đầu gay gắt”. Chẳng hạn, nếu như bà Karen bắt chuyện với ông Ameen bằng lời lẽ bực dọc, “Đấy, lại thế nữa rồi, cứ ích kỷ dành cả buổi tối để nói chuyện với chị ông”, thì ông Ameen sẽ tự động ở trạng thái phòng vệ. Nhà trị liệu sẽ muốn hướng dẫn bà Karen cách mở lời dịu dàng hơn, có thể là bằng một câu nói như, “Tôi cảm thấy bị tổn thương khi ông không để ý đến tôi mặc dù là tôi đã cố bắt chuyện với ông”. Điều tiết tăng cường cảm xúc tích cực có thể xảy ra trong cả tình huống mâu thuẫn và không có mâu thuẫn. Ông Gottman đã chỉ ra rằng kể cả khi các cặp đôi cãi vã với nhau, họ vẫn sẽ nỗ lực tìm ra được các sự gắn kết để giúp điều tiết sự tiêu cực trong tương tác. Các nỗ lực trên sẽ bao gồm việc ra sức đưa sự vui vẻ, hài hước, thấu hiểu, tình cảm,… vào quá trình tương tác. Người thường hướng về những nỗ lực kết nối của đối phương nhiều hơn, kể cả khi mâu thuẫn xảy ra, sẽ ít có khả năng chia cách hoặc ly hôn. Ông cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nên các cảm xúc tích cực trong các mối quan hệ vào những thời điểm tương đối ổn định. Đây chính là một quá trình tích cực trong việc tạo dựng sự thân mật trong các khoảnh khắc đời thường và gắn liền với các hành động như tham gia vào những đoạn đối thoại giải toả căng thẳng hằng ngày, thường xuyên bộc lộ tình cảm bằng hành động và lời nói, thấu hiểu hơn về thế giới của người còn lại (bản đồ tình yêu), và tạo ra các thói quen có ý nghĩa chung giữa hai người. Chẳng hạn, một nhà trị liệu được đào tạo về phương pháp Gottman có thể khuyến khích bà Karen và ông Ameen xây dựng lại một số thói quen cũ đã giúp cho hai ông bà gắn kết với nhau trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, bất kể người chị nói trên có đang hiện diện ở trong nhà của họ đi chăng nữa. Nhìn chung, ông Gottman đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tình bằng hữu, tình cảm, lòng tin tưởng, và sự tôn trọng lẫn nhau trong một mối quan hệ yêu đương.

EFT sẽ có chín bước trị liệu khác nhau được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên chú trọng vào việc phân tích và giảm chu kỳ các vòng lặp tương tác tiêu cực. Nhà trị liệu sẽ hỗ trợ cặp đôi trên trong việc xác định được vấn đề gây mâu thuẫn cụ thể của họ và nơi mà các vấn đề đó được bộc lộ trên vòng tương tác tiêu cực. Bà cũng sẽ hỗ trợ họ nhìn nhận các cảm xúc hướng về sự gắn bó vốn là nguyên nhân ẩn dưới vị thế tương tác của họ. Các vấn đề sau đó sẽ được gói gọn lại trong khuôn khổ của các nhu cầu gắn bó. Chẳng hạn, trong trường hợp của bà Karen và ông Ameen, kiểu giao tiếp của họ ban đầu có thể được định hình bằng sự nóng giận từ phía bà Karen, và sự khó chịu từ ông Ameen khi đáp lại những đòi hỏi của bà Karen. Mối quan hệ đặc biệt của họ sẽ xoay vần trong vòng lặp mà trong đó bà Karen sẽ là người truy đuổi, ra sức hằn học để ông Ameen nhìn nhận và chú ý đến mình, khiến cho ông phải xa lánh vợ mình. Nhà trị liệu đi theo liệu pháp EFT sẽ giúp cho hai ông bà nhận thức được vòng lặp tương tác tiêu cực trên trong những giai đoạn đầu của quá trình trị liệu. Bà Karen cũng có thể sẽ dần dần hiểu được rằng ẩn sâu dưới sự nóng giận của bà tồn tại sự cô đơn, và cảm giác bị bỏ rơi, hoảng loạn mà bà cảm nhận được khi ông Ameen không đáp lại bà chính là hệ quả tự nhiên khi các nhu cầu gắn bó của bà chưa được đáp ứng. Mục tiêu của giai đoạn thứ hai là giúp họ thay đổi được các vị thế tương tác của mình. Tiến sĩ Johnson nhận định rằng công việc chính của các nhà trị liệu EFT là làm gián đoạn các vòng tương tác lặp đi lặp lại, tiêu cực, lẩn quẩn để kiểu tương tác mới có thể xuất hiện. Việc này có thể được thực hiện bằng cách khuyến khích bà Karen và ông Ameen chấp thuận và hồi đáp lại các trải nghiệm của riêng nhau bằng sự thấu hiểu, đồng thời giúp họ bày tỏ các mong muốn và nhu cầu gắn bó của họ từ một vị thế dễ bị tổn thương. Sau cùng, cặp đôi sẽ hướng đến một hình thức tương tác cảm xúc mà trong đó họ sẽ quan tâm và hồi đáp lẫn nhau. Giai đoạn thứ ba của trị liệu sẽ tập trung vào việc củng cố và tích hợp. Nhà trị liệu EFT sẽ đánh giá những gì mà cặp vợ chồng đã làm được trong suốt quá trình trị liệu và giúp họ tạo dựng nên được một bức tranh toàn cảnh về hành trình nhiều trăn trở của họ. Trong khi các nhà trị liệu đi theo phương pháp Gottman vào vai “huấn luyện viên cảm xúc” thì các nhà trị liệu EFT sẽ được xem như là một “người tư vấn tiến trình” giúp các cặp đôi đa dạng hóa và tái định hình lại các phản ứng cảm xúc của họ. Các nhà trị liệu EFT sẽ quan sát các sự tương tác của các cặp đôi và liên tục đưa ra đánh giá của mình, đồng thời cũng định hướng quá trình tương tác của họ. Ta có thể thấy rằng các nhà trị liệu EFT đều sẽ theo dõi và dẫn dắt các cặp đôi trong suốt tiến trình đi đến sự thay đổi các vị thế tương tác của họ. Các nhà trị liệu sẽ can thiệp vào quá trình tương tác theo nhiều hướng khác nhau, chẳng hạn như việc xác nhận, tự nhìn nhận, đặt ra các câu hỏi mang tính khơi gợi, và diễn giải đồng cảm nhẹ nhàng.

Trọng tâm giữa Quá trình và Nội dung

Tất cả ba liệu pháp được nêu trên đều công nhận tầm quan trọng của việc chú trọng vào quá trình thay vì nội dung. Khi các cặp đôi bắt đầu quá trình trị liệu, họ bị mắc kẹt trong các vấn đề ở bề nổi, tranh cãi với nhau về tiền bạc, tình dục hoặc con cái. Ông Hendrix rất rõ ràng về quá trình phát triển trong suy nghĩ của về việc ông sẽ dành bao nhiêu không gian cho các kiểu vấn đề như vậy; ông khẳng định rằng trong những năm đầu sự nghiệp, ông đã “đi sâu vào chi tiết” về sự giằng co giữa các cặp đôi để giúp họ thấu hiểu được các vấn đề của họ. Sau nhiều năm làm việc theo hướng này, ông đã nhận ra rằng ẩn dưới bề nổi của các vấn đề nhỏ nhặt là một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều: sự gắn kết bị rạn nứt giữa các cặp đôi. Sự rạn nứt ẩn dưới lời nói tương tác giữa họ: cũng giống như một ngọn lửa âm ỉ, nó sẽ dần dần làm tăng nhiệt độ lên và trở thành nguồn nhiên liệu thiêu rụi cả mâu thuẫn nhỏ nhặt hơn giữa các cặp đôi. Khi ông Hendrix hướng sự chú tâm của mình vào chất lượng của mối quan hệ của các cặp đôi – sự gắn kết giữa họ – ông đã bắt đầu thấy được những tiến bộ đáng kể trong những cặp đôi tham gia vào quá trình trị liệu của ông.

Liệu pháp EFT cũng thừa nhận một điều rằng cáchmà con người cãi vã với nhau sẽ quan trọng hơn việc họ cãi với nhau về cái gì, và nó gói gọn sự gắn kết bị rạn nứt trong khuôn khổ của lý thuyết gắn bó. Theo thuật ngữ trong EFT, một mối quan hệ lành mạnh sẽ được xem là một sự gắn bó an toàn. Các cặp đôi ở trong một mối quan hệ an toàn sẽ có sự quan tâm và hồi đáp với nhau một cách đúng đắn. Trong một mối quan hệ gặp nhiều vấn đề, cả hai bên sẽ phản hồi nhau theo hướng làm mất dần đi sự an toàn trong gắn bó, dẫn đến một hệ quả tất yếu: đầu tiên là họ sẽ nóng giận, sau đó họ níu giữ và trầm cảm, và cuối cùng là sẽ xa cách nhau. Tiến sĩ Johnson đã rất sắc sảo khi nhận thấy được rằng cái mà con người dùng để cãi vã với nhau khi họ tranh luận về tiền bạc, tình dục, hoặc con cái chính là bản chất thực sự của mối quan hệ gắn bó, cái sẽ gợi lên cho chúng ta thấy được danh tính của họ. Vì danh tính liên tục được định hình qua việc chúng ta tương tác với những người xung quanh, ông Johnson đã nhấn mạnh về một sự thật rằng các phản ứng phê phán hay khinh thường từ hai phía trong mối quan hệ có thể sẽ có một tác động rất độc hại lên nhận thức của một người về giá trị bản thân. Các phản ứng kém lý tưởng trên sẽ tạo ra các phản ứng và đau khổ cho những người bạn đời đau khổ, và tiếp tay cho các vòng lặp tương tác tiêu cực.

Cũng như EFT, phương pháp Gottman ít chú trọng hơn vào việc giúp các cặp đôi giải quyết các mâu thuẫn mà thay vào đó trao cho họ các phương thức để tạo ra các tương tác mang tính xoa dịu và xây dựng một kiểu tương tác cảm xúc cụ thể khi đang trong mâu thuẫn. Ông Gottman đã có sự rõ ràng khi phân biệt phương pháp trị liệu của mình với các lý thuyết truyền thống về cặp đôi mà chỉ tập trung “giải quyết mâu thuẫn”, với mục tiêu là giúp cho cả hai bên “giải quyết” được sự xung đột trong họ. Theo quan điểm truyền thống trên, ta có thể giải quyết được các vấn đề trong mối quan hệ (các vấn đề ở bề nổi), và một mối quan hệ lành mạnh là khi các cặp đôi hiếm khi hoặc không bao giờ cãi vã với nhau. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của ông Gottman lại chỉ ra rằng 69% các xung đột trong quan hệ sẽ kéo dài vĩnh viễn, tức là các vấn đề mà các cặp đôi tranh cãi với nhau đều có nguồn cơn từ những sự khác biệt lâu dài trong các tính cách, quan điểm, và nhu cầu, mà ta sẽ không bao giờ có thể giải quyết một cách triệt để. Các cặp đôi trong các mối quan hệ lành mạnh và bền vững sẽ tìm được cách sống chung với chúng, hoặc, theo như chính lời nói của ông Gottman, “các mối quan hệ vững chắc sẽ tạo dựng ra được… một “cuộc đối thoại” về các vấn đề trên”. Do các vấn đề trên bề nổi sẽ luôn luôn tồn tại ở một hình thức nào đó trong một mối quan hệ, ông Gottman hoàn toàn có đủ cơ sở để không chú trọng vào việc giải quyết vấn đề mà chỉ tập trung vào việc giúp các cặp đôi xây dựng các cảm xúc tích cực.

Chú trọng vào việc Tích cực Lắng nghe/Hướng dẫn Giao tiếp

Ba liệu pháp trên có sự khác biệt đáng kể trong sự nhấn mạnh vào hướng dẫn giao tiếp. Kỹ thuật chủ động lắng nghe 3 bước có tên là “Đối thoại Imago” sẽ là trọng tâm của IRT. Mặc dù việc đối thoại chỉ là một trong 18 bài thực hành mà các cặp đôi sẽ trải qua trong phương pháp trị liệu này, ông Hendrix xem nó như một quá trình thiết yếu để hàn gắn lại mối liên kết bị rạn nứt giữa hai bên trong mối quan hệ. Kỹ thuật trên sẽ bao gồm ba bước riêng biệt: mô phỏng, xác nhận, và thấu hiểu. Mỗi bước sẽ có sự sắp đặt kỹ càng, và các cặp đôi được yêu cầu không đi lệch hướng khỏi khuôn mẫu đối thoại. Trong IRT, nhà trị liệu sẽ chọn ra một bên trong mối quan hệ để làm “Người gửi”. Người đó có thể sẽ nói với đối phương rằng, “Anh/em muốn mình nói chuyện với nhau. Liệu mình nói chuyện bây giờ thì có được không?”, rồi sau đó sẽ chia sẻ những suy nghĩ hay cảm xúc của bản thân. Bạn đời của người gửi, mà ta gọi là “Người nhận”, sau đó sẽ diễn đạt lại thông điệp của Người gửi bằng lời nói của mình. Quá trình mô phỏng này sẽ tiếp diễn cho đến khi Người gửi cảm thấy rằng đối phương đã thấu hiểu được thông điệp của mình. Cặp đôi sau đó sẽ đi đến bước xác nhận, yêu cầu Người nhận không chỉ lắng nghe và hiểu được những gì được nói ra mà phải xác nhận được tâm tư của Người gửi. Chẳng hạn, trong một cuộc đối thoại ở bước xác nhận, Người gửi có thể nói là, “Em có hiểu được những gì anh vừa nói không? Anh có thể hiểu được tại sao em lại cảm thấy như vậy không?”. Sau đó, Người nhận có thể đáp lại rằng, “Có, anh hiểu em bực dọc vì…”. Nói cách khác, Người nhận sẽ công nhận “sự thật” về trải nghiệm của Người gửi. Người nhận không nhất thiết phải đồng quan điểm với Người gửi, nhưng phải có nỗ lực trong việc gác lại thế giới quan của mình để nhìn nhận được thực tại của Người gửi một cách thành thực. Bước cuối cùng của kỹ thuật “Đối thoại Imago” chính là sự thấu hiểu, thứ mà ông Hendrix định nghĩa là “khả năng hiểu rõ được điều mà người khác đang trải qua kể cả khi bạn chưa bao giờ có trải nghiệm nào giống như vậy”. Khi Người nhận hồi đáp lại thông điệp của Người gửi bằng sự thấu hiểu, tức là họ đã công nhận và đáp lại các cảm xúc đằng sau tâm tư của đối phương. Trong khi ông Hendrix xem kỹ thuật “Đối thoại Imago” là một trong những kỹ thuật chủ lực của mình, thì ông Gottman lại ít chú trọng hơn vào các hoạt động giao tiếp được sắp đặt sẵn. Mặc dù ông vẫn tin rằng ta sẽ có một “phạm vi thiết yếu” để tạo điều kiện cho việc tích cực lắng nghe trong nỗ lực củng cố và duy trì một mối quan hệ, ông lại không xem việc hướng dẫn giao tiếp như nền tảng của một liệu pháp tình yêu. Trên thực tế, ông đã chỉ ra rằng các kỹ năng được hướng dẫn trong nhiều khóa đào tạo giao tiếp không phải lúc nào cũng được bộc lộ trong các sự tương tác giữa các cặp đôi có cảm giác yên tâm, và hài lòng trong quan hệ. Vì lý do này, ông không tin rằng một quan hệ mà trong đó hai bên không tích cực lắng nghe nhau khi nói chuyện sẽ không còn cơ hội nào nữa. Ông đã tán thành tính thiết thực của việc công nhận và thấu hiểu, nhưng lại chỉ xem chúng như một phần nhỏ của chiến lược tổng quát trong tiến trình hàn gắn hôn nhân.

Liệu pháp EFT đi theo dòng suy luận của ông Gottman về tầm quan trọng trong sử dụng việc tích cực lắng nghe như một kỹ thuật trị liệu cho các cặp đôi. Từ góc nhìn của sự gắn bó, việc tích cực lắng nghe chính là một hình thức tương tác cảm xúc, và qua đó sẽ mang lại giá trị khi sử dụng một phương thức có tính hệ thống để công nhận và thấu hiểu được đối phương vì việc này sẽ tạo điều kiện cho quá trình tương tác an toàn về cảm xúc. Việc tích cực lắng nghe sẽ có khả năng giải tỏa căng thẳng. Bà Susan Johnson đã chỉ ra rằng các cặp đôi có cảm giác an toàn có thể tận dụng cách thức trên trong các thói quen thường ngày để giảm leo thang các vòng lặp tương tác tiêu cực. Tuy nhiên, riêng việc tích cực lắng nghe thôi không phải có thể giải quyết được trạng thái hấp thụ cảm xúc tiêu cực vốn là đặc điểm của nhiều mối quan hệ trắc trở, và hơn nữa, bà Johnson lại chưa bao giờ có chủ ý kết hợp việc hướng dẫn giao tiếp vào các phiên trị liệu EFT. Chúng ta cần phải nhớ rằng EFT sẽ có khả năng “thoát ly” ra khỏi các vòng tương tác tiêu cực phụ thuộc vào cấp độ an toàn trong một mối quan hệ, và qua góc nhìn này, việc giao tiếp phi ngôn ngữ và theo quá trình có tầm quan trọng lớn hơn liệu pháp giao tiếp lời nói thuần túy để duy trì các mối quan hệ lành mạnh.

Như chúng ta đã thấy được, ba liệu pháp tình yêu chủ đạo được bàn luận trong bài viết này đều có đủ sự khác biệt với nhau để được sử dụng bởi các nhà trị liệu với nền tảng học vấn khác nhau và làm thay đổi các triết lý. Phương pháp của ông Gottman có nền tảng là khoa học căn bản, và các kỹ thuật mà ông chú trọng vào để làm việc với các cặp đôi bắt nguồn từ những kết quả của vô số các cuộc nghiên cứu phi can thiệp được thực hiện trong các môi trường được kiểm soát nghiêm ngặt. Bà Susan Johnson đã nhấn mạnh một sự thật rằng EFT có nền tảng dựa trên sự thực nghiệm do nó bắt nguồn từ lý thuyết gắn bó và rằng các cuộc nghiên cứu về tính hiệu quả của các khoá trị liệu EFT đã cho ta thấy được các kết quả khả quan trọng việc hàn gắn lại một cuộc hôn nhân trong xung đột. IRT, có nền tảng ít chú trọng vào nghiên cứu nhất trong ba liệu pháp trên, là sự dung hợp độc đáo giữa truyền thống phân tâm học và kiến thức về tinh thần, và cũng có thể được xem là liệu pháp phổ biến nhất và có tính thương mại nhất. Các nhà trị liệu cần phải dành thời gian để làm quen với các phương thức khác nhau trước khi bắt tay vào làm việc với cặp đôi. Việc bám theo một phương thức đúng đắn – phương thức mà mỗi người chúng ta “cảm thấy phù hợp” với chính các thuyết luận của bản thân – sẽ tạo nên sự khác biệt giữa sự hiệu quả và thiếu hiệu quả trong trị liệu tình yêu.

Tác giả Gabrielle Nabi, Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình được cấp phép, Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội, Cử nhân Xã hội học được cấp phép. Bà Gabrielle Nabi đã được trao bằng thạc sĩ ngành Công tác Xã hội tại trường Đại học Washington của thành phố St. Louis và bằng thạc sĩ ngành Tâm lý học Lâm sàng với trọng tâm hướng về mảng trị liệu hôn nhân và gia đình tại trường Đại học Pepperdine. Bà cũng là một cử nhận trong ngành Nghiên cứu Tôn giáo tại trường Đại học Chicago. Bà đã từng công tác trong vị trí biên tập viên hàn lâm của công ty xuất bản John Wiley & Sons và đã đúc kết được hơn mười lăm năm kinh nghiệm trong ngành xuất bản. Bà hiện đang làm việc với các thân chủ của mình trong một cơ sở tư tại Bãi biển Huntington, bang California, nơi bà tiếp nhận các đối tượng trị liệu bao gồm người lớn, trẻ em, cặp đôi, và các gia đình.

Tài liệu tham khảo

Hendrix, H. (2008). Đi tìm tình yêu mà bạn muốn: Phương hướng dành cho các cặp đôi. Thành phố New York, bang New York: Nhà xuất bản St. Martin’s.

Brown, R. (1999). Liệu pháp Mối quan hệ Imago: Giới thiệu về lý thuyết và thực hành. Thành phố New York: Nhà xuất bản John Wiley & Sons.

Johnson, S. M. (2008). Liệu pháp tình yêu tập trung cảm xúc. A. S. Gurman (Ed.), Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi, tái bản lần thứ tư (trang 107-137). Thành phố New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Johnson, S. M. (19-09-2024). Liệu anh có muốn ở bên em không? Nắm bắt được nền tảng của mâu thuẫn trong tình yêu. Báo The Psychotherapy Networker. Nguồn: ttps://www.psychotherapynetworker.org

Gottman, J. M., & Silver, N. (2012). Tình yêu bền vững nhờ đâu: Phương thức xây dựng lòng tin tưởng và ngăn chặn sự bất trung. Thành phố New York: Nhà xuất bản Simon and Schuster.

Gottman, J. M., & Gottman, J. S. (2008). Liệu pháp tình yêu theo phương pháp Gottman. A. S. Gurman (Ed.), Sổ tay lâm sàng về trị liệu cho các cặp đôi, tái bản lần thứ tư (trang 138-164). Thành phố New York, bang New York: Nhà xuất bản Guilford Press.

Gottman, J. M., & Silver, N. (2015). Bảy nguyên tắc trong hôn nhân bền vững. Thành phố New York: Nhà xuất bản Harmony Books.

Ohlson, K. (10-2015). Nhà bác học tình yêu. Báo Psychology Today, trang 72-81.

Bảng tóm tắt các phương thức trị liệu tình yêuLiệu pháp Mối quan hệ Imago (IRT)Liệu pháp Tình yêu theo phương pháp GottmanLiệu pháp Tình yêu Tập trung cảm xúc (EFT)
Khuôn khổ trị liệu18 bài thực hành trong mười phiên trị liệuTừ 10 đến 12 phiên trị liệu; các cơ sơ dành riêng cho các cặp đôiChín bước trị liệu chia thành ba giai đoạn
Nền tảng lý thuyếtPhân tâm học/các truyền thống tâm linh đa dạng/khoa học về hành vi/chủ nghĩa nhân vănNghiên cứu thực nghiệm trong hơn ba thập kỷ trở lại đâyLý thuyết gắn bó; chủ nghĩa hậu hiện đại/xây dựng; thực nghiệm/hình thái tổng; tương tác/hệ thống
Vai trò/Lập trường của nhà trị liệuHướng dẫn qua sự thấu hiểu và củng cố sự hiểu biết về quan hệ của các cặp đôi“Gia sư cảm xúc”“Người tư vấn tiến trình”
Mục tiêu chính trong trị liệuTạo dựng nên một mối quan hệ có ý thứcSự hài lòng về quan hệ (“ấm cửa yên nhà”)Tạo dựng nên sự gắn bó giữa hai người trong quan hệ/giải tỏa căng thẳng và thay đổi các vị thế tương tác

Quang Thái dịch, ThS Huỳnh Hiếu Thuận hiệu đính

Leave a comment