Giải mã ngôn ngữ của tình yêu

Tác giả: tiến sĩ tâm lý Sue Johnson

Giúp các cặp đôi làm chủ việc giao tiếp, gắn kết và vượt qua mâu thuẫn bằng học thuyết gắn bó

Tóm lược

Tình yêu chinh phục tất cả

  • Con người biểu hiện những khuôn mẫu gắn bó đặc thù, thường được hình thành dựa trên các mối quan hệ với người nuôi dưỡng trong thời thơ ấu, mà điều này có khả năng định hình các mối quan hệ bằng hữu và yêu đương trong suốt cuộc đời của họ.
  • Khi một ai đó có sự “gắn bó an toàn”, họ cảm thấy tự tin rằng người họ yêu thương sẽ sẵn sàng giúp đỡ, động viên và hồi đáp với họ khi họ cần.
  • Nhiều cặp đôi gặp phải khó khăn khi cả hai xa cách nhau về mặt cảm xúc. Trị liệu tập trung cảm xúc giúp họ thu hẹp khoảng cách, trao đổi về nhu cầu và cảm xúc của họ.

Đa phần những đau khổ và niềm vui trong đời ta đều bắt đầu từ một cái nhìn thoáng qua, một nụ hôn và sau đó là cả một đời chật vật định nghĩa động từ “yêu”. Các bệnh nhân có niềm tin rằng bác sĩ của họ có thể nắn lại một cái xương gãy hay kê thuốc để điều chỉnh lại huyết áp cho họ. Tuy vậy, các nhà thơ, triết gia và nhà tâm lý học từ trước đến nay đều xem tình yêu là thứ khó nắm bắt và mơ hồ, mà chúng ta không có khả năng định nghĩa được. Như một đồng nghiệp trẻ của tôi đã từng nói, “Tôi không nghĩ có ai thực sự hiểu được thứ gọi là tình yêu này, kể cả cô cũng không ngoại lệ.” Tình yêu là thứ lộng lẫy trong muôn hình muôn vẻ nhưng cũng đầy bí ẩn. Người ta vẫn hay băn khoăn làm sao mà tôi hay bất kỳ ai khác có thể đưa ra được lời khuyên cho các vấn đề bí ẩn của trái tim?

Từ kinh nghiệm là một nhà nghiên cứu và cố vấn cho các cặp đôi, tôi đã gặp được vô vàn cá nhân tìm cách giải quyết được sự bí ẩn đó. Đã có vô số lần tôi được nghe thấy câu nói này: “Tôi không hiểu mối quan hệ của tôi đang gặp phải vấn đề gì… mà tôi cũng chẳng biết làm thế nào để cứu vãn được nó.”

Trên thực tế, có nhiều phương pháp thực tiễn đã được nghiên cứu khoa học chứng thực giúp con người hiểu và củng cố tình yêu. Trong vài thập kỷ qua, học thuyết gắn bó đã tạo nên một cuộc cách mạng âm thầm. Ví dụ như, chúng ta đã biết rằng các khuôn mẫu hành vi học được từ thời thơ ấu sẽ định hình các mối quan hệ trưởng thành của chúng ta sau này. Ở một mức độ sâu hơn, chúng ta có thể thấy được sự phong phú về mặt tiến hóa và sinh học trong tình yêu và lòng yêu thương; và sự liên kết giữa chúng ta mang lại những ảnh hưởng đo lường được lên cơ thể và sức khỏe của chúng ta. Có lẽ điều thú vị nhất ở dây là chúng ta đã nghiên cứu ra các phương pháp có thể dẫn dắt các cặp đôi đến với các mối quan hệ lành mạnh hơn. Ở một góc độ nào đó, khoa học về gắn bó, vốn từng chỉ tập trung vào sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái,  giờ đây đã tiến đến tuổi “trưởng thành” và làm sáng tỏ được vô số những dấu hiệu mạnh mẽ thấy được ở các cặp đôi hạnh phúc.

Con người có nhu cầu biết được những điều này. Chẳng hạn, trong một cuộc khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu Pew được xuất bản vào năm 2012, 84% số người tham gia nhận định hôn nhân là một cột mốc cuộc đời rất quan trọng. Và một cuộc khảo sát Pew công bố vào năm 2010 đã cho thấy rằng đa số người tham gia cho rằng tình yêu là nền móng của hôn nhân. Phần nhiều trong số họ đồng quan điểm với nhà tâm lý học Robert Waldinger đến từ Trường Y học Harvard, rằng công thức hiệu quả nhất để có được niềm vui, sức khỏe và cuộc đời tươi đẹp chính là một mối quan hệ bền chặt. Xuất phát từ những quan niệm như vậy, các vấn đề về quan hệ thời nay là lý do hàng đầu thôi thúc các cá nhân tìm kiếm sự trợ giúp từ các chuyên gia về sức khỏe tâm lý như chính tôi.

Qua nhiều năm, học thuyết gắn bó đã tiến bộ đến mức có thể cho chúng ta một cái nhìn cụ thể về thói quen của tình yêu để củng cố các mối quan hệ ở người trưởng thành – kể cả các mối quan hệ lãng mạn đầy thách thức. Trong nghiên cứu của tôi, tôi đã phát triển và thử nghiệm một phương pháp trị liệu có khả năng dẫn dắt các cặp đôi đi đến các mối quan hệ bền chặt và hỗ trợ nhau hơn. Các nghiên cứu mới nhất đã xác thực và cũng đồng thời phản bác một số quan niệm ấp ủ lâu nay của chúng ta về bản chất của tình yêu. Quan trọng hơn hết, các nghiên cứu trên thực chất có rất nhiều điều để chỉ ra cho chúng ta về cách chủ động định hình để củng cố các mối quan hệ lãng mạn của chúng ta.

Tình mẫu tử

Trong phần này, chúng ta sẽ xét đến sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái. Trong phần lớn thế kỷ 20, chúng ta đều đã gạt bỏ đi nhu cầu về sự gắn kết an toàn của trẻ em đến mức các bậc cha mẹ thường có thói quen bỏ con cái bị ốm của họ tại bệnh viện để người lạ mặt chăm sóc mà không cân nhắc rằng liệu như vậy có để lại tổn thương cho trẻ hay không. Các chuyên gia về sức khỏe tâm lý đã ủng hộ các lý thuyết cho rằng những gia đình bất hòa là hệ quả của việc gần gũi quá mức mà không đủ xa cách. Việc chia cách cha mẹ ra khỏi con cái đã được coi là yếu tố cần thiết trong việc xây dựng tính mạnh mẽ (cho trẻ).

Những sai lầm trong kiểu suy nghĩ như vậy là lý do bắt đầu cho chuỗi thí nghiệm của hai nhà tâm lý học John Bowlby và Mary Ainsworth cách đây nửa thế kỷ. Trong nỗ lực giải mã sự gắn kết giữa con người, họ đã quan sát các hành động tương tác giữa những người mẹ và đứa con sơ sinh của họ, và sau đó quan sát sự thay đổi hành vi khi hai bên bị chia cách với nhau trong một môi trường lạ lẫm.

Các thí nghiệm “tình huống lạ” này đã cho thấy rằng một số hành động tương tác giữa mẹ và con đúng như dự đoán đã tạo ra các hành vi bình tĩnh và tích cực ở đứa trẻ, trong khi các tương tác khác thì không mang lại kết quả như vậy. Như được nhận định trong cuốn sách “Gắn bó và Mất mát” viết vào năm 1969 của tác giả Bowlby, các tình huống như vậy có thể làm sáng tỏ các khuôn mẫu trong cách trẻ em thể hiện hành vi mà có liên quan đến sự gắn bó với mẹ của chúng. Bà Ainsworth sau đó đã xác định ba “kiểu” cơ bản của thuyết gắn bó để giải thích các đặc tính trên.

Chia cách, nhìn chung, sẽ gây ra sự lo âu. Tuy nhiên, đối với một số trẻ, bản chất về sự gắn kết giữa các em với mẹ của mình đã ở một mức độ giúp các em không cảm thấy hoảng sợ khi đi một mình. Thay vào đó, các em lại có cảm giác tò mò và có khả năng khám phá các môi trường mới lạ mà không cảm thấy sợ hãi. Các bậc cha mẹ trong những kiểu quan hệ này đã truyền lại lòng yêu thương và chăm sóc của mình một cách rõ ràng, và con cái họ nhận được cảm giác yên ấm dưới sự quan tâm của họ. Theo bà Ainsworth, kiểu gắn bó này được gọi là “an toàn”. Những đứa trẻ có tâm an tĩnh sẽ biểu hiện sự cân bằng về cảm xúc, sự tự tin, cùng với khả năng khám phá và học hỏi. Các em cảm thấy rằng cha mẹ mình đã tạo ra cho mình một mái ấm an toàn, và kết quả là các em đã trở nên mạnh mẽ, có thể cởi mở kết nối với người khác khi các em lớn lên.

Tuy nhiên, những đứa trẻ sơ sinh khác lại biểu hiện một nhóm hành vi đặc thù khác với các em kể trên. Các em “gắn bó trong bất an, lo lắng” có tiền sử bị ngập chìm trong nỗi đau khổ và sự mông lung vì bị chia cách. Bậc cha mẹ của những đứa trẻ này khi tham gia vào các cuộc thử nghiệm hay có xu hướng khó tiếp cận, kiệm lời, và ít chú tâm hơn. Phản ứng cảm xúc của các em rất dữ dội. Các em chuyển từ nóng giận sang hoảng sợ khi gọi cha mẹ mình đến, và khi được mẹ vỗ về, các em bám chặt lấy mẹ, như thể vẫn chưa dám tin rằng mọi chuyện trên thực tế đã ổn.

Một nhóm khác gồm những đứa trẻ thuộc kiểu gắn bó bất an thì lại biểu hiện rất ít cảm xúc khi mẹ của các em rời đi hay quay lại. Thay vào đó, các em này chỉ tập trung vào những món đồ chơi và đồ vật xung quanh. Các em không đòi bố mẹ, cũng không có phản ứng gì khi được mẹ vỗ về. Các em né tránh bất cứ sự gần gũi nào. Nghiên cứu sau đó đã chỉ ra rằng nhiều thành viên trong những đứa trẻ “tránh né” này cũng có mức độ nóng giận ngang bằng với nhóm bất an trước nhưng lại rất giỏi trong việc kìm lại phản ứng của chính mình, khả năng rất lớn là hệ quả của việc dạy con mà không tương tác với con hay thậm chí là liên quan đến bạo hành. Các em không có kỳ vọng nào về sự gắn kết an toàn.

Đến những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã bắt đầu nhận ra rằng những khuôn mẫu này có thể hình thành nên các mối quan hệ ở tuổi trưởng thành – bao gồm các mối quan hệ yêu đương. Các phản ứng có liên quan đến mỗi kiểu gắn bó trở sẽ trở thành thói quen khi chúng ta lớn lên cũng như có thể định hình xu hướng mà chúng ta suy nghĩ và cảm nhận về bản thân khi trong mối quan hệ với người khác. Chẳng hạn như chúng ta có thể gặp khó khăn trong việc tin tưởng người khác khi không thể dựa dẫm vào cha mẹ mình. Việc thiếu đi sự quan tâm từ thuở nhỏ có thể khiến một số người băn khoăn về việc liệu mình có xứng đáng được người khác quan tâm hay không.

Cũng như trí nhớ cơ bắp, những hành vi này sẽ trỗi dậy khi chúng ta bị tổn thương trong các mối quan hệ yêu đương. Những người bạn đời kiểu gắn bó an toàn thường có xu hướng tạo ra các mối quan hệ lành mạnh hơn và nhìn chung có sức khỏe tâm lý tốt hơn. Họ có kỳ vọng được hồi đáp và yêu thương. Những người bạn đời có kiểu hình gắn bó bất an sẽ có sự cảnh giác cao độ với việc bị từ chối và hay có xu hướng theo đuổi đối phương với nhiều đòi hỏi tình cảm quyết liệt. Những cá nhân thuộc nhóm gắn bó tránh né sẽ quay lưng với người yêu của họ, đặc biệt là khi họ hoặc người yêu của họ cảm thấy bản thân có khả năng bị tổn thương, họ sẽ gạt bỏ đi nhu cầu gắn bó của chính họ và người yêu của họ.

Quả vậy, một nghiên cứu dài hạn được xuất bản vào năm 2007 bởi các nhà tâm lý học đến từ Đại học Minnesota đã xác định tính lâu dài của các khuôn mẫu trên. Nhóm nghiên cứu làm việc với 78 người trẻ ở độ tuổi trưởng thành vốn đã được nghiên cứu từ thời sơ sinh. Trong nghiên cứu, những người có biểu hiện kiểu gắn bó an toàn có khả năng hòa nhập với xã hội tốt hơn ở thời tiểu học so với những người thiếu gắn bó kiểu trên. Khả năng hòa nhập đó lại dự báo trước các mối quan hệ lành mạnh hơn ở tuổi thiếu niên – và những mối quan hệ xã hội bền chặt hơn ở độ tuổi 16 liên thường gắn liền với các mối quan hệ tình cảm tốt đẹp hơn khi những người tham gia bước vào khoảng độ tuổi từ 20 đến 23. Trong khi đó một nghiên cứu khác đã chỉ rõ rằng những người tiếp xúc với tình trạng bạo lực và những bất ổn nghiêm trọng khác trong mối quan hệ  từ thuở nhỏ không chỉ phát triển kiểu hình gắn bó bất an mà còn dễ mắc phải các vắn đề về tâm thần và lặp lại vòng bạo hành lẩn quẩn khi trưởng thành.

Các kiểu hình bất an và tránh né đã hằn sâu thường hay có xu hướng gieo rắc sự chia cách và lo âu trong mối quan hệ, khiến cho bên còn lại cảm thấy khó khăn hơn trong việc duy trì sự đồng điệu và phản hồi. Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn hy vọng. Một loạt các nghiên cứu mới nhất, mà trong đó có sự tham gia của tôi, đã tìm hiểu về các phương pháp điều chỉnh những hành vi trên và phương thức mà các phương pháp trên có thể thực sự thay đổi cuộc đời.

Mọi thứ tốt đẹp hơn khi ta bên cạnh nhau

Tôi đã bắt đầu nghiên cứu học thuyết gắn bó từ những năm 1980. Trong khoảng thời gian đó, tôi đã gặp gỡ những cặp đôi trong quá trình trị liệu và khi tôi biết được tình thế tiến thoái lưỡng nan, những nhu cầu và cả những nỗi sợ hãi kinh khủng của họ, tôi đã bắt đầu tức tốc tìm ra một hướng đi để hiểu được sự khó khăn họ gặp phải. Trong khi tích lũy những hiểu biết đang dần rõ nét về thuyết gắn bó ở người trưởng thành, tôi và các cộng sự của mình đã phát triển phương pháp trị liệu tập trung cảm xúc (EFT)  như một liệu pháp ngắn hạn được xây dựng dựa trên học thuyết này.

Để hiểu được cách hoạt động của EFT,  đầu tiên chúng tôi cần phải xem xét đến nguyên lý chủ chốt của học thuyết gắn bó. Cụ thể hơn, tình yêu mà chúng ta cảm nhận được từ người khác sẽ để lại tác động to lớn lên chúng ta, cả về thể chất lẫn tinh thần. Vài nghiên cứu đã chứng thực kết luận trên trong những năm gần đây.

Một thí nghiệm then chốt được xuất bản vào năm 2006 bởi ông James A. Coan, nhà khoa học thần kinh đến từ Đại học Y tế bang Virginia, đã mời 16 phụ nữ đã kết hôn sử dụng máy chụp cộng hưởng từ và đặt họ trước nguy cơ bị sốc điện dưới ba tình huống khác nhau: nắm tay chồng, nắm tay một người đàn ông lạ mặt hoặc nằm một mình trong máy. Ở mỗi tình huống, một dấu X lớn sẽ xuất hiện trước mắt những người phụ nữ này để cảnh báo họ rằng cú sốc điện sắp xảy ra. Cú sốc điện chỉ xảy ra trong 20% thời gian thí nghiệm.

Ông Coan quan sát được rằng việc vợ chồng nắm tay nhau đã làm giảm đáng kể mức độ kích hoạt của hệ thống thần kinh trong bộ não có liên quan đến phản ứng trước các mối đe dọa về cảm xúc và hành vi, chẳng hạn như thùy đảo phải, hồi trán trên và vùng dưới đồi. Hành động này cũng đã làm giảm đi mức đau đớn nhận được từ cú sốc điện nói trên. Tuy nhiên, việc nằm một mình hoặc nắm tay người lạ lại không đem đến bất kỳ lợi ích đáng kể nào. Hơn thế nữa, dựa theo khảo sát từ bảng câu hỏi, những người tham gia có cuộc hôn nhân hỗ trợ nhau nhiều hơn dường như lại ít cảm thấy đau nhất.

Phát hiện của ông Coan là một trong nhiều những nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện của người thân có thể điều tiết được các phản ứng sinh lý thần kinh, chẳng hạn như nhịp tim và quá trình giải phóng các hoóc-môn gây căng thẳng. Đáng chú ý, hàng loạt các nghiên cứu được xuất bản năm 2012 đã cho thấy rằng ngay cả việc chỉ tưởng tượng về người mà bản thân có gắn bó cũng có thể mang lại những tác dụng sâu rộng. Trong công trình này, một nhà tâm lý học đến từ Đai học Cornell vào thời đó, ông Emre Selcuk, cùng các cộng sự của ông, đã khuyến khích 105 người phụ nữ xác định kiểu gắn bó của mình qua một bảng câu hỏi. Những người tham gia sau đó đã viết chi tiết về hai ký ức sâu đậm và gây phiền muộn cho bản thân. Với mỗi câu chuyện, họ tạo ra từ một đến ba từ khóa kích hoạt cảm xúc và luyện tập việc nhớ lại các cảm xúc liên quan đến các khoảnh khắc trên chỉ qua việc sử dụng các từ gợi nhớ đó. Tiếp theo, Selcuk yêu cầu những người phụ nữ nhớ lại các ký ức trên trong khi tưởng tượng bản thân đang được nhận được sự trấn an từ mẹ hoặc một người thân của họ. Sau đó, những người phụ nữ này sẽ đánh giá phản ứng cảm xúc của bản thân về mức độ tích cực hoặc tiêu cực mà họ cảm thấy trên thang điểm từ 1 đến 7, với mức 1 là không có gì, và mức 7 là cực đại. Trong trường hợp của những người có kiểu hình gắn bó an toàn, việc tưởng tượng về mẹ thay vì người quen đã giúp họ gạt đi được nỗi đau và sự u buồn từ ký ức bất hạnh. Trong phiên bản thứ hai của thí nghiệm này, Selcuk thấy rằng kết quả trên cũng sẽ xảy ra khi người tham gia nhìn vào ảnh chụp của mẹ mình, nhưng không phải là ảnh mẹ của người khác. Hai thí nghiệm trên chỉ rõ rằng chúng ta có thể nhận được sức mạnh cảm xúc to lớn chỉ đơn thuần từ việc nghĩ về những người mà ta gắn bó.

Trong phiên bản thứ ba của thí nghiệm trên, Selcuk và các đồng nghiệp của ông đã yêu cầu 30 cặp đôi nhìn vào ảnh người yêu của mình khi đang nhớ lại một trải nghiệm khó khăn. Đúng như dự đoán, những người có kiểu gắn bó an toàn nhận được nhiều lợi ích hơn so với những người còn lại trong thí nghiệm. Tuy nhiên, đáng chú ý là các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những người phục hồi nhiều hơn về mặt cảm xúc lại có sức khỏe tốt hơn, dựa trên các quan sát sau đó một tháng. Ví dụ, họ cảm thấy ít đau đớn, lo lắng hơn và khả năng nghỉ việc vì lý do sức khỏe cũng thấp hơn.

Phát hiện trên chỉ là sự tương quan, cho thấy được mối liên kết giữa sức khỏe thể chất và một mối quan hệ lành mạnh nên nó không thể chứng minh rằng một yếu tố có thể dẫn đến cái còn lại. Tuy vậy, phần nhiều các nghiên cứu về thuyết gắn bó cho rằng các mối quan hệ lành mạnh sẽ giúp chúng ta sống khỏe mạnh. Do đó, việc vun đắp những mối quan hệ đặc biệt đó có thể giúp chúng ta vượt qua được những bất trắc trong đời, và điều đó chắc chắn sẽ giúp chúng ta sống khỏe mạnh hơn về mọi mặt.

Theo quan điểm đó, các mối quan hệ của chúng ta là một phần trong chức năng sinh tồn của giống loài chúng ta. Kiểu gắn bó an toàn giúp cho chúng ta cảm thấy yên tâm và cũng là một cách để duy trì sự cân bằng khi đối mặt với nguy hiểm. Những sự gắn bó trên giúp chúng ta chịu đựng và đương đầu với sự yếu mềm rất con người trong bản thân chúng ta. Và khi chúng ta xem những người xung quanh là nơi ta có thể đặt niềm tin vào, góc nhìn này về cơ bản sẽ thay đổi nhận thức của chúng ta về hiểm nguy, thảm họa và đau đớn. Câu nói cũ rích ta vẫn hay nghe, “tình yêu khiến cho ta mạnh mẽ hơn”, có vẻ chẳng sai chút nào.

Giúp các cặp đôi kết nối với nhau

Vấn đề thường gặp nhất ở các mối quan hệ là tình trạng mất liên kết về mặt cảm xúc. Chẳng hạn, mâu thuẫn có thể khiến một người trở nên lầm lũi hoặc không mở rộng lòng mình với đối phương. Kết quả là một bên sẽ tạo ra sự xa cách về mặt cảm xúc với bên còn lại. Sự xa cách đó sẽ làm dấy lên tâm lý lo lắng về việc chia cách – cũng giống thí nghiệm tình huống người lạ – và hậu quả là đem lại hàng loạt sự phản kháng, bám víu và đau khổ cho người cảm thấy bị bỏ rơi. Nghiêm trọng hơn, những tình huống này có thể dẫn đến một vòng luẩn quẩn: sự xa cách cảm xúc sẽ khiến một bên trở nên oán giận hoặc vô vọng và càng đẩy bên kia ra xa hơn.

Ngay giữa lúc như vậy, những hành vi trên thoạt nhìn có thể giống như những cãi vã nhỏ nhặt, thường bắt nguồn từ một vấn đề hết sức tầm thường. Tuy nhiên, thuyết gắn bó đưa ra rằng những cuộc tranh cãi đó thực chất có thể là những nan đề hình thành từ sự mất kết nối. Mối đe dọa từ việc cô lập cảm xúc có thể dẫn đến phản ứng giận dữ (như khi một bên tuyên bố rằng, “Tôi sẽ khiến anh phải trả lời tôi”) hay là thái độ thờ ơ vô cảm (như khi nói rằng, “Tôi chẳng bao giờ làm cô hài lòng được, nên tôi sẽ giả điếc và cho cô ra rìa”).

Trong nghiên cứu của tôi, tôi đã nhận ra rằng những sự bột phát trên chủ yếu xoay quanh nỗi đau bắt nguồn từ việc xa cách cảm xúc và nỗ lực tai hại trong việc thu hẹp khoảng cách hơn là chính bản thân sự mẫu thuẫn hay thậm chí là sự khác biệt trong tính cách. Góc nhìn này phản bác lại quan niệm cho rằng tình yêu là thứ mà chúng ta dễ dàng rơi vào và cũng dễ dàng bước ra. Thay vì vậy, học thuyết gắn bó gợi ý rằng tình yêu là thứ mà chúng ta có thể kiểm soát – miễn là chúng ta hiểu được bản chất của sự gắn bó là gì.

Vì vậy, mục tiêu đầu tiên của phương pháp EFT là giúp cho các cặp đôi thấy được lý do họ bị cuốn vào một điệu nhảy lặp đi lặp lại của sự xa cách về cảm xúc, kích động đối phương hoặc là thúc ép hồi đáp một cách gay gắt hoặc là thu mình lại rồi đóng kín cảm xúc. Kết quả là, họ sẽ có một góc nhìn rộng hơn về tình yêu, để thấy được làm thế nào mà những điểm dễ bị tổn thương của họ được kết nối với não bộ như liên kết cặp giữa động vật có vú, và để giúp nhau thoát ra khỏi “những cuộc đối thoại độc hại lặp lại” làm họ bị cô lập và bất lực. Mục tiêu thứ hai là giúp cho họ nghĩ về các trải nghiệm tích cực của sự gắn bó an toàn khi họ cần được liên hệ hay hỗ trợ. Nói cách khác, chúng tôi cần phải cho họ biết được cách gắn bó thông qua việc cả hai cùng trò chuyện để xác định và chia sẻ về những nỗi lo cụ thể trong việc gắn bó và các nhu cầu để hai bên tiến gần đến nhau. Các bên trong những cuộc trò chuyện gắn bó trên có thể chia sẻ cởi mở về nỗi sợ bị từ chối hoặc cô đơn và sau đó yêu cầu sự an ủi để bên kia có thể dễ dàng hồi đáp lại. Tôi và các đồng nghiệp của mình đã quan sát và dùng phương pháp sắp xếp các bước trò chuyện để đánh giá mức độ chia sẻ cảm xúc và phương hướng mà các bên tiếp xúc và hồi đáp với nhau. Cách tiếp cận như vậy đã giúp chúng tôi xác định những khoảnh khắc then chốt giúp tạo ra sự gắn kết thành công và cũng như những khoảnh khắc khi quá trình điều chỉnh và hồi đáp trên bị gián đoạn.

Như chúng tôi đã nhận định trong một bài đánh giá vào năm 2013, các quá trình quan sát của chúng tôi đã đưa ra nhiều chỉ dẫn về thời điểm và cách thức mà phương pháp EFT hỗ trợ các cặp đôi trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Không phải bất cứ ai cũng có được sự cải thiện, tuy nhiên, những người làm được đều chia sẻ các điểm tương đồng. Chẳng hạn như chúng tôi đã nhận thấy rằng phương pháp EFT mang lại lợi ích cho các cặp đôi khi họ sẵn sàng bỏ thời gian trong quá trình trị liệu để đào sâu, khám phá về các trải nghiệm cảm xúc và chia sẻ nhiều hơn về quan điểm của họ. Những cá nhân giảm bớt khuynh hướng đổ lỗi cũng biểu hiện được sự hài lòng về việc cải thiện quan hệ sau phiên trị liệu. Sự kết hợp giữa sự thân thuộc, tính dễ bị tổn thương cùng cái nhìn bao dung hơn có vẻ là yếu tố quan trọng.

Giai đoạn trên của quá trình trị liệu cũng giúp các cá nhân củng cố bộ ba kỹ năng then chốt trong mối quan hệ: tiếp cận, phản hồi và gắn kết. Tiếp cận đề cập đến việc chúng ta rộng mở và sẵn sàng hướng đến người khác. Phản hồi là khả năng nhận biết và đáp lại các tín hiệu cảm xúc của đối phương. Gắn kết là khả năng ở bên và đồng điệu với cảm xúc của người còn lại và duy trì sự thân mật. Trong môi trường lâm sàng, chúng ta sẽ thấy được những phẩm chất trên được gắn với các câu hỏi thường ngày như: “Anh có còn tình cảm với em không?” Dưới một mức độ cơ bản, khi con người biết rằng câu trả lời cho câu hỏi trên là một từ “Có” đầy cảm xúc, họ sẽ tạo được một sự gắn kết an toàn.

Phá vỡ khuôn khổ

Hiện nay, phương pháp EFT là tiêu chuẩn vàng đã được kiểm chứng khi can thiệp vào các cặp đôi được thử nghiệm. Tuy không phải là phương pháp duy nhất được áp dụng bởi các nhà trị liệu cho các cặp đôi, EFT vẫn mang lại sự độc đáo trong việc tích hợp với học thuyết gắn bó. Một số nhà tâm lý học tận dụng các phương pháp về hành vi với mục đích giải quyết các triệu chứng của sự phiền muộn, chẳng hạn như tình trạng đổ lỗi cho nhau, bằng cách hướng dẫn các kỹ năng như tích cực lắng nghe và trao đổi bằng lý lẽ. Tuy nhiên, ít có phương pháp nào có cơ sở bằng chứng mạnh mẽ như EFT. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã chứng thực phương pháp trên qua vô số các nghiên cứu, đề cập đến nhiều kiểu cặp đôi và vấn đề về mối quan hệ khác nhau.

Đề cập đến một trong những kết quả đáng chú ý nhất của chúng tôi trong hiện nay, chúng tôi đã thấy được rằng phương pháp EFT có thể thay đổi đáng kể kiểu gắn bó của một người. Vào năm 2016, chúng tôi đã công bố một thí nghiệm gồm 32 cặp đôi đang đau khổ tham gia vào 20 phiên trị liệu bằng phương pháp EFT. Khởi đầu của nỗ lực này, tất cả những người tham gia đều nhận định rằng họ không cảm thấy hạnh phúc với bạn đời của mình. Hơn nữa, họ đều đã cảm thấy xa cách về cảm xúc với nhau trong một thời gian dài, và do vậy đã mất đi khả năng tâm sự với nhau hoặc không thể đặt niềm tin vào nhau khi vấn đề ập đến.

Không chỉ yêu cầu những người than gia tự đánh giá chính mình qua các bảng câu hỏi, chúng tôi còn khuyến khích bàn luận về một mâu thuẫn nhất định trong quan hệ vào thời điểm đầu và cuối phiên trị liệu. Qua việc tận dụng những thông tin trên, chúng tôi xác định kiểu gắn bó của họ. Tuy bắt đầu tiến trình trị liệu với kiểu gắn bó là bất an (thuôc dạng lo âu hoặc né tránh), các cặp đôi đã xếp mình vào kiểu gắn bó an toàn hơn vào cuối tiến trình trị liệu. Họ đã tiếp cận, phản hồi và gắn kết với nhau về mặt cảm xúc. Họ cũng đã thấy được rằng họ có thể thỏa mãn được nhu cầu gắn kết của nhau. Một nghiên cứu bổ trợ được công bố vào năm nay đã cho thấy rằng các cặp đôi này vẫn giữ được sự gắn bó tình cảm và an toàn với nhau.

Những nghiên cứu trên đã cho thấy rằng các khuôn mẫu gắn kết mà ta học được từ thời thơ ấu hoàn toàn không mang tính bất biến. Chúng ta có thể thay đổi được các khuôn mẫu ấy để cải thiện chính bản thân mình. Hơn thế nữa, đây rõ ràng là một quá trình có giá trị rất lớn. Nghiên cứu của chúng tôi còn gợi lên rằng khi phương pháp EFT cải thiện được chất lượng của các mối quan hệ yêu đương, nó không chỉ cải thiện mỗi lo âu từ các sự mâu thuẫn giữa các cặp đôi mà còn củng cố khả năng vượt qua nỗi lo âu của cả hai. Ví dụ, trong một bài nghiên cứu vào năm 2013, chúng tôi đã yêu cầu 24 cặp đôi tham gia vào hoạt động chụp ảnh chuẩn đoán thần kinh và tận dụng các phương pháp từ thí nghiệm nắm tay của ông Coan. Chúng tôi đã thấy được rằng, việc nắm tay người chồng đã không làm vơi đi nỗi sợ hãi hay cơn đau của những người phụ nữ trước cú sốc điện. Tuy vậy, sau phiên trị liệu, hoạt động đã phát huy được tác dụng.

Các đội ngũ khác cũng đã xác nhận rằng những cải thiện trong chất lượng mối quan hệ mà phương pháp EFT mang đến được cũng giúp củng cố sức khỏe một cách sâu rộng hơn. Trong một cuộc nghiên cứu thí điểm vào năm 2017 được thực hiện tại Trung tâm Y tế Baltimore VA, với sự tham gia trong 36 tuần trị liệu EFT của mội cựu chiến binh mắc phải tình trạng sang chấn tâm lý, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng cặp đôi của người cựu chiến binh đã biểu hiện được sức khỏe tâm lý tốt hơn sau phiên trị liệu và cùng với đó, người cựu chiến binh đã cảm nhận được sự suy giảm đáng kể trong các triệu chứng rối loạn của họ.

Liệu pháp EFT mang đến cho người tham gia những kỹ năng để định hình và giữ lửa cho tình yêu của họ. Liệu pháp đã chứng minh được phương thức mà học thuyết mới về sự gắn bó có thể được sử dụng để dẫn dắt trong việc chữa lành và duy trì các mối quan hệ. Tuy tình yêu vẫn luôn là một điều kỳ diệu, chúng ta giờ đã có thể định nghĩa được cái nhìn tổng thể về sự gắn kết cảm xúc này và thấu hiểu được bản chất của nó. Chính sự hiểu biết này là một phép màu trong một bức tranh đa sắc rực rỡ của các nghiên cứu mà giới khoa học đã khuyên chúng ta theo đuổi không chỉ vì một mối quan hệ lâu dài mà còn để trở nên khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn và có được cuộc sống viên mãn hơn. Sau tất cả, các mối quan hệ sâu sắc nhất của chúng ta sẽ nâng đỡ chúng ta giữa những thời điểm khốn khó. Như ông Mozart đã từng nói dựa theo quan sát của chính mình, “Tình yêu bảo vệ trái tim trước vực thẳm tăm tối”. Câu nói trên không chỉ đơn thuần là thơ phú.

Quang Thái và Kim Hà dịch, Hiếu Thuận hiệu đính

————————

Đặt hẹn tham vấn tâm lý dành cho cặp đôi/vợ chồng: https://tuhochanhphuc.com/dat-hen-tham-van/

Lớp học về phương pháp Trị liệu tập trung cảm xúc (EFT) nền tảng dành cho các nhà chuyên môn: https://tuhochanhphuc.com/lop-hoc-tri-lieu-tap-trung-vao-cam-xuc-eft-nen-tang/

Lớp học EFT nền tảng dạng tự học qua video thu lại: https://tuhochanhphuc.com/tri-lieu-tap-trung-cam-xuc-nen-tang/

Leave a comment